Bản hùng ca còn mãi (Bài 1): Từ cuộc “bể dâu” của dân tộc
Tháng 6 năm 1407, kháng chiến chống giặc Minh của nhà Hồ thất bại. Từ chiến thắng Bạch Đằng năm 938, sau gần 5 thế kỷ, quốc gia Đại Việt lại rơi vào cuộc “bể dâu” mất nước, bị đô hộ. Cuộc sống người dân điêu linh trên “ngọn lửa hung tàn” của kẻ xâm lược.

Bảo vật quốc gia Bia Vĩnh Lăng khắc ghi thân thế, sự nghiệp và công cuộc đánh giặc cứu nước của vua Lê Thái Tổ.
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn”
Đánh bại nhà Hồ, nhà Minh xâm lược bắt đầu thiết lập chính quyền đô hộ trên đất nước ta và tiến hành những chính sách thống trị về mọi mặt.
Theo sách Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427): “Âm mưu của nhà Minh là không những chiếm nước ta làm thuộc quốc mà còn muốn thực hiện dã tâm đồng hóa, vĩnh viễn xóa bỏ nước ta và sáp nhập hẳn vào lãnh thổ của nhà Minh... Minh Thành Tổ hạ chiếu đổi nước ta làm quận Giao Chỉ, coi như một địa phương của nước Đại Minh. Chính quyền đô hộ ở Giao Chỉ nói chung được tổ chức như một chính quyền địa phương của nhà Minh”.
Trong bộ máy chính quyền cai trị, quan lại nhà Minh nắm giữ những chức vụ chủ chốt. Cùng với đó, chính quyền đô hộ cũng “đào tạo” đội ngũ tay sai người bản xứ - gọi là thổ quan. Một số người thuộc tầng lớp quý tộc quy thuận nhà Minh được chúng ban cho những đặc quyền, quan tước. Việc tạo ra đội ngũ quan lại tay sai của nhà Minh nhằm thực hiện chính sách chia để trị. Bên cạnh đó, nhà Minh thi hành những chính sách thuế khóa nặng nề, đàn áp tàn khốc và vơ vét, bóc lột tham tàn.
Về mặt quân sự, chúng tước hết vũ khí trong tay Nhân dân, người nào cất giấu hay chế tạo vũ khí bị khép vào tội “phản nghịch”. Khi có những cuộc bạo động xảy ra, chúng đưa quân đến khủng bố, đàn áp man rợ. Theo sử liệu, chúng chất thây người làm núi, rút ruột người quấn vào cây, rán người lấy mỡ, mổ bụng đàn bà chửa... Tội ác của chúng: “Tát khô nước Đông Hải, khôn (không) rửa sạch tanh hôi/ Chẻ hết trúc Nam Sơn, khó ghi đầy tội ác”. Và tội ác ấy khiến “Thần nhân đều căm giận/ Trời đất lẽ nào dung tha...” (Bình Ngô đại cáo)
Về những chính sách cai trị của nhà Minh trên đất nước ta, sách Lam Sơn thực lục, viết: “Chính lệnh ngặt nghèo, hình phạt tàn ác, không cái gì là chúng không làm. Cấm muối mắm để cho dân thiếu ăn, nặng sưu thuế để cho dân hết của. Lặn biển tìm ngọc trai, khoét núi lấy vàng. Ngà voi, sừng tê, gỗ thơm, lông trả... phàm ta có bao nhiêu sản vật, chúng hết sức lùng tìm, không cái gì là bỏ sót để cho đầy túi tham”.
Với chính sách cai trị tham tàn, “cuộc xâm lược và ách đô hộ của nhà Minh đã cản trở và kìm hãm gay gắt sự phát triển của xã hội ta, đe dọa nghiêm trọng vận mạng của cả dân tộc, chà đạp lên cuộc sống cũng như mọi phẩm giá của con người”. Người Việt từ ngàn xưa luôn khát vọng độc lập, tự chủ, đứng trước cảnh nước mất, nhà tan, lịch sử lại đặt ra nhiệm vụ phải đấu tranh để khôi phục nền độc lập dân tộc. Thực tế, hai mươi năm thuộc Minh với những điêu linh, khốn khó về đời sống người dân, song cũng là những năm tháng cha ông không ngừng đấu tranh ngoan cường.
Những cuộc khởi nghĩa...
Trước khởi nghĩa Lam Sơn, dưới ách đô hộ của nhà Minh, ở nhiều địa phương trong cả nước đã diễn ra các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh chống lại quân xâm lược.
Đó là cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi - con trai vua Trần Nghệ Tông. Khi nhà Trần còn, ông được phong Giản Định vương. Khi nhà Minh cai trị nước ta, Trần Ngỗi xưng Giản Định đế (Giản Định hoàng đế) tập hợp lực lượng đấu tranh. Cuộc khởi nghĩa do Giản Định đế lãnh đạo không chỉ nhằm mục đích đánh đuổi quân Minh xâm lược mà còn khát vọng khôi phục lại cơ nghiệp nhà Trần. Bởi vậy, các tài liệu sử thường coi việc Trần Ngỗi lên ngôi vua - mở ra thời kỳ “hậu Trần” trong lịch sử. Cuộc khởi nghĩa do Giản Định đế đứng đầu giành được những tiếng vang nhất định khiến quân Minh phải điều động lực lượng đối phó. Tuy nhiên sau đó, do những người lãnh đạo khởi nghĩa thiếu sự đồng tâm, chưa huy động, tập hợp được sức mạnh toàn dân nên sau một thời gian bị quân Minh đàn áp dẫn đến thất bại.
Một cuộc khởi nghĩa khác của tôn thất nhà Trần là Trần Quý Khoáng. Năm 1409, Trần Quý Khoáng lên ngôi vua lấy niên hiệu là Trùng Quang. Thanh thế cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng khá mạnh, từng chiếm giữ một vùng rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào. Tuy nhiên, nhận thấy sức mạnh không thể khinh thường của cuộc khởi nghĩa, chính quyền cai trị nhà Minh đã tăng viện binh, tập trung lực lượng đàn áp, gây những tổn thất lớn lao.
Học giả Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam sử lược cũng nhìn nhận: “Nhà hậu Trần nổi lên toan đường khôi phục, nhưng hiềm vì nỗi lòng người còn li tán, thế lực lại hèn yếu, cho nên chỉ được 7 năm thì mất”.

Sau liên tiếp những thất bại của các cuộc khởi nghĩa diễn ra trong cả nước, nơi núi rừng Lam Sơn, phụ đạo Khả Lam Lê Lợi đã hội tụ anh hùng, hào kiệt khắp nơi tìm đến tụ nghĩa, chung quyết tâm đánh giặc.
Cùng với hai cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng, phong trào nổi dậy đấu tranh chống ách cai trị nhà Minh còn diễn ra ở nhiều nơi khác trong cả nước, song cuối cùng đều bị chính quyền cai trị nhà Minh đàn áp khốc liệt, nhanh chóng tan rã, thất bại.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của các cuộc khởi nghĩa được chỉ ra, đó là thiếu một bộ phận lãnh đạo kiên quyết và có uy tín rộng rãi trong Nhân dân, có khả năng huy động và tập hợp lực lượng từ các tầng lớp yêu nước.
Khi các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh trong cả nước liên tiếp thất bại, cũng là lúc chính quyền đô hộ có thời gian “ổn định”, chúng tăng cường củng cố quyền lực và thực hiện các chính sách đồng hóa, vơ vét, bóc lột. Thực tế ấy đặt ra “nhiệm vụ”, để lật đổ ách cai trị nhà Minh, đánh đuổi giặc ngoại xâm khỏi bờ cõi, yêu cầu đặt ra là phải có một cuộc khởi nghĩa bền bỉ, lớn mạnh, huy động tinh thần đoàn kết, sức mạnh toàn dân. Và trong tình thế ấy, lịch sử đã “gọi tên” khởi nghĩa Lam Sơn.
Lam Sơn tụ nghĩa
Sau những đàn áp khốc liệt các cuộc nổi dậy đấu tranh của Nhân dân ta, nhà Minh tưởng chừng đã có thể ổn định việc cai trị. Thì bấy giờ, ở đất Lam Sơn xứ Thanh - nơi tiếp giáp miền thượng du với núi rừng trùng điệp, lại gần các con sông, phụ đạo Khả Lam (tức Lam Sơn) Lê Lợi là người trượng nghĩa, có uy tín trong vùng đã âm thầm dốc tâm sức, tài sản, nuôi chí lớn đánh giặc ngoại xâm.

Sách sử ghi: Từ đất Lam Sơn, với tư tưởng xuyên suốt: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn/ Đem chí nhân mà thay cường bạo”, Bình Định vương Lê Lợi đã trở thành thủ lĩnh khởi nghĩa Lam Sơn
Nghe tiếng Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa, anh hùng hào kiệt bốn phương đã vượt núi, băng sông tìm đến đất Lam Sơn tụ nghĩa.
Theo Lam Sơn thực lục, tại Lam Sơn, Lê Lợi “hậu đãi tân khách, vời người trốn tránh... ngầm nuôi kẻ mưu sĩ, bỏ của phát thóc giúp người cơ bần, nhún lời, hậu lễ để thu hào kiệt”. Núi rừng Lam Sơn bên ngoài lặng lẽ song bên trong đó là khí thế chuẩn bị khởi nghĩa được thắp lửa, một căn cứ dần hình thành. Và Lê Lợi là thủ lĩnh tối cao.
(Còn nữa)
Khánh Lộc
{name} - {time}
-
2026-09-29 10:01:00Câu chuyện của những “Đại sứ Văn hóa đọc”
-
2026-09-29 07:09:00Phục dựng Điện Kính Thiên - nơi lưu dấu “hồn cốt” của Hoàng thành Thăng Long
-
2026-09-28 16:28:00Lễ hội Lam Kinh năm 2026






