Danh thơm truyền tụng muôn đời
“Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi" là lời đúc kết của dân gian để ghi nhớ hai ngày giỗ quan trọng bậc nhất của vương triều nhà Hậu Lê: ngày giỗ của Trung thần Lê Lai (21 tháng 8 âm lịch) và ngày giỗ của Thái tổ Cao hoàng đế Lê Lợi (22 tháng 8 âm lịch).

Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Đền thờ Trung Túc vương Lê Lai, xã Kiên Thọ.
Một biểu tượng đẹp trong lịch sử dân tộc
Lê Lai là người dân tộc Mường, quê làng Dựng Tú, huyện Thụy Nguyên, nay là xã Kiên Thọ, tỉnh Thanh Hóa. Thân phụ ông là Lê Kiều, làm chức phụ đạo trong vùng, vì thế, ông sớm ý thức về trách nhiệm của một đấng nam nhi. Sau này, sử gia Lê Quý Đôn trong sách Đại Việt thông sử miêu tả Lê Lai là người có tính tình cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt.
Dưới ngọn cờ tụ nghĩa của Bình Định vương Lê Lợi, Lê Lai là một trong những người đầu tiên gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Từ giữa năm 1415, Lê Lợi thành lập Hội đồng mưu lược chuẩn bị khởi nghĩa, gồm 9 người trong đó có Lê Lai. Đến mùa xuân năm Bính Thân 1416, Lê Lợi cùng với 18 vị hào kiệt đã làm lễ tế cáo trời đất, mưu tính việc dựng cờ khởi nghĩa, lật đổ ách thống trị của nhà Minh. Sử chép sự kiện ấy là Hội thề Lũng Nhai. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Bình Định vương Lê Lợi và Hội đồng mưu lược, cùng tinh thần của Hội thề Lũng Nhai, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã diễn ra vô cùng ác liệt ngay từ buổi đầu phát động. Đặc biệt là năm 1419, nghĩa quân rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, bị quân Minh bao vây trên núi Chí Linh.
Vòng vây quân thù ngày một xiết chặt khiến nghĩa quân hao hụt dần, lương thực cạn kiệt, phải ăn củ nâu, mật ong để cầm cự. Nếu không sớm thoát khỏi tình thế hiểm nghèo này, cuộc khởi nghĩa có nguy cơ bị dập tắt, quân tướng Lam Sơn có thể bị tuyệt diệt.
Chủ tướng Lê Lợi hội họp các tướng bàn cách giải nguy. Ông hỏi các tướng:
- Ai dám đổi áo, thay ta đem quân ra đánh giặc, xưng danh hiệu của ta, bắt chước như Kỉ Tín đời Hán để cho ta có thể giấu tiếng, nghỉ binh, tập hợp tướng sĩ, mưu tính cuộc nổi dậy về sau?
Chư tướng đều lặng im, chỉ có Lê Lai đứng dậy khẳng khái nói lớn: “Tôi xin đi. Sau này lấy được nước thì nghĩ đến công lao của tôi, khiến cho con cháu đời đời được nhờ ơn nước, đó là nguyện vọng của tôi”.
Thế rồi, Lê Lai cải trang thành Lê Lợi, dẫn 500 quân cảm tử và 2 voi chiến xông ra đánh địch, tự xưng là chúa Lam Sơn. Quân Minh tưởng thật, hùng hổ xông đến. Lê Lai đã dũng cảm chiến đấu nhưng quân ít, thế cô, cuối cùng toàn quân bị diệt, bản thân bị quân Minh bắt giải về, sau đó bị xử tử bằng cực hình. Tưởng rằng đã giết được Lê Lợi, đánh tan quân khởi nghĩa, tướng Minh hí hửng thu quân, triệt thoái khỏi Chí Linh. Lê Lợi và các nghĩa binh còn lại nhờ đó mới thoát hiểm và tính kế mưu sự trở lại.
Nhờ sự hy sinh đánh lạc hướng này, Lê Lợi và phần lớn lực lượng nòng cốt đã thoát khỏi hiểm nghèo, xây dựng lực lượng để 10 năm sau đánh đuổi hoàn toàn quân Minh, lập ra cơ nghiệp nhà Hậu Lê.
Và một "đặc ân" lớn
Sau khi Lê Lai hy sinh, Lê Lợi ngầm sai người tìm di hài đem về Lam Sơn mai táng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, đã truy phong cho Lê Lai là Suy Trung đồng đức hiệp mưu Bảo chính Lũng Nhai công thần.

Nghi thức rước kiệu múa rồng về trước đền Trung Túc vương Lê Lai.
Thực tế lịch sử ghi nhận Lê Lai hy sinh vào mùa xuân năm 1418 (năm Mậu Tuất); Lê Lợi (Lê Thái Tổ) băng hà vào ngày 22 tháng 8 (nhuận) năm Quý Sửu (1433). Dù Lê Lai mất vào tháng giêng, nhưng trước khi qua đời, Lê Lợi đã để lại một di huấn đầy tính nhân văn cho con cháu và triều thần: Phải làm giỗ Lê Lai trước ngày giỗ của mình một ngày. Lê Lợi muốn nhắc nhở muôn đời sau rằng: Nếu không có sự hy sinh “cởi áo thay vị” của Lê Lai ở núi Chí Linh năm xưa, thì đã không có vương triều nhà Lê. Đặt ngày giỗ của một vị bề tôi lên trước ngày giỗ của đấng quân vương là một đặc ân hiếm có trong lịch sử phong kiến, thể hiện sự tri ân tột cùng của một vị vua đối với người đã hy sinh thay mình.
Trong sự nghiệp chống giặc Minh, dựng nên nhà Hậu Lê, Lê Lợi chứng kiến nhiều sự hy sinh, giúp đỡ của rất nhiều người. Nhưng sự hy sinh của Lê Lai là trường hợp duy nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Trải qua gần 6 thế kỷ, di huấn của vua Lê Thái Tổ đã vượt ra khỏi chốn cung đình để trở thành một nếp sinh hoạt tín ngưỡng của dân gian. Câu nói “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” vì thế đã trở thành một biểu tượng bất diệt cho đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt, đồng thời là bài học sâu sắc về chữ trung của bậc bề tôi và chữ nghĩa của đấng minh quân.
Công lao của Lê Lai cũng đã được các đời vua Lê gia phong nhiều tước vị cao quý khác như: Thái úy (1429), Bình Chương quốc quân trọng sự (1443), Diên Phúc Hầu (1470), Thái úy Phúc Quốc Công (1484), và cuối cùng là Trung Túc vương.
Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, con cháu Lê Lai được triều đình cấp ruộng để tế tự. Ngay cả khi triều đình có chính sách giảm lộc điền, số ruộng cấp cho con cháu Lê Lai (100 mẫu) vẫn được giữ nguyên. Bởi, cả gia đình Lê Lai đều cống hiến hết mình cho sự nghiệp cứu nước. Đó là người anh trai Lê Lạn tử trận khi tham gia đánh ải Khả Lưu năm 1425, được phong tặng Hiệp Quận Công, hàm Thái phó. Ngoài ra, cả ba người con của Lê Lai là Lê Lư, Lê Lộ và Lê Lâm đều được Lê Lợi nuôi như con đẻ và đều hy sinh trên chiến trường.
Nằm cách Khu di tích Lam Kinh khoảng 6km về phía Tây, Đền thờ Trung Túc vương Lê Lai là địa chỉ quen thuộc của khách thập phương. Đền thờ được xây vào năm Thái Hòa thứ 7, triều Vua Lê Nhân Tông (1450). Đến năm Bảo Đại thứ 14 (1939) được trùng tu, tôn tạo lại bằng gạch, lợp ngói, cột, xà rui mè trong đền đều là gỗ lim. Trải qua nhiều biến cố, Đền thờ Trung Túc vương Lê Lai đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1962.
Những ngày thu tháng Tám, bước chân vào khu di tích Đền thờ Trung Túc vương Lê Lai, đứng trước hồ bán nguyệt thơm ngát hương sen, đọc những dòng thông tin về đệ nhất khai quốc công thần Lê Lai, hậu thế không chỉ hiểu về công lao của một con người mà còn thêm hiểu về lịch sử một vương triều, sự trung nghĩa của bậc đế vương và trung thần. Dẫu thời gian đã đổi thay, song Lê Lai mãi xứng đáng là người mà danh thơm truyền tụng đến muôn đời.
Bài và ảnh: Kiều Huyền
(Bài viết có sử dụng tư liệu: Vương triều Tiền Lê - Hậu Lê (Lê Xuân Kỳ), NXB Thanh Hóa, 2014; Lam Sơn thực lục - Truyện Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn, NXB Hồng Đức, 2026; tài liệu trong Hội thảo khoa học Anh hùng dân tộc Lê Lợi và Nhân dân Thanh Hóa với khởi nghĩa Lam Sơn...).
{name} - {time}
-
2026-10-01 10:23:00Dấu ấn vùng đất cổ Bất Căng và dòng họ Lê Năng trong khởi nghĩa Lam Sơn
-
2026-10-01 08:37:00Tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc
-
2026-09-30 20:40:00Bế mạc Hội nghị đối thoại Khu vực châu Á-Thái Bình Dương về di sản và tính xác thực






![[Thanh Hóa xưa và nay] Dấu xưa trên đất Hạc Thành](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2639/280d4083317t1800l1-280d4083257t1806.webp)