Bậc nữ nhân qua những chuyện kể lưu danh sử sách
Trong dặm dài phát triển của dân tộc Việt Nam, những người phụ nữ bằng tài năng, bản lĩnh, khát vọng và tấm lòng nhân hậu đã tỏa sáng theo những cách khác nhau, khẳng định khí chất phụ nữ Việt Nam.

Đền Bà Triệu nằm trên sườn núi Gai xã Triệu Lộc là nơi hậu thế tìm về để tưởng nhớ, tri ân công đức của vua Bà.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, bên cạnh những nam nhân uy dũng, còn có những nữ nhân anh hùng. Họ, khi có giặc đến nhà đã sẵn sàng xông pha trận mạc, điều binh khiển tướng, tạo nên bản hùng ca “đền nợ nước, trả thù nhà” bất tử.
Triệu Đà sau khi chiếm được nước Âu Lạc của An Dương Vương đã cho lập nên nước Nam Việt. Về sau, vua Vũ Đế nhà Hán sang đánh nhà Triệu, chia nhỏ Nam Việt thành các quận. Trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Ở mỗi quận sai quan thái thú trông coi, cai trị. Vùng đất Giao Chỉ bấy giờ là các tỉnh ở phía Bắc nước ta.
Tô Định được cử sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Với chính sách cai trị bạo ngược, tàn ác, Tô Định khiến lòng người oán hận. Một trong những người bị hắn giết hại là Thi Sách.
Tức giận về sự bạo ngược, tàn ác của Thái thú Tô Định, lại thêm mối thù giết chồng, vợ Thi Sách là Trưng Trắc vốn là con gái một quan lạc tướng huyện Mê Linh đã cùng với em gái là Trưng Nhị nổi binh đánh Tô Định. Người đời thường gọi là Hai Bà Trưng.
Hai Bà Trưng được quân sĩ ủng hộ, thế và lực ngày càng mạnh, đánh cho Thái thú Tô Định phải bỏ chạy. Lúc bấy giờ những quận Cửu Chân, Nhật Nam... cũng nổi lên khởi nghĩa, theo về với Hai Bà Trưng. Hai bà xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh.
Trước khí thế của quân Hai Bà Trưng, vua nhà Hán lo lắng phải sai Mã Viện dẫn quân sang đàn áp. Mã Viện là một tướng lão luyện của nhà Hán, trải qua nhiều trận giao tranh ác liệt, trước thế và lực vượt trội hơn của quân Mã Viện, quân của Hai Bà Trưng khó bề chống đỡ, đành phải lui binh. Vì không muốn rơi vào tay giặc, Hai Bà Trưng đã chọn gieo mình xuống dòng Hát Giang.
Sử gia Lê Văn Hưu thời nhà Trần khi nhắc đến Hai Bà Trưng đã dành lời khen: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay”. Sau nay, học giả Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam sử lược cũng dành sự ngưỡng mộ khi nhắc đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng: “Hai bà họ Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng là đủ để cái tiếng thơm về muôn đời”.
Tiếp nối khí phách của Hai Bà Trưng, 200 năm sau ở đất Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay) có nữ nhân là Triệu Ẩu (Triệu Trinh Nương - tức Bà Triệu) đã khởi binh chống ách cai trị của nhà Ngô. Nếu như Hai Bà Trưng bởi mối thù giết chồng mà khởi binh đánh giặc thì nữ nhân Triệu Trinh Nương phất cờ khởi nghĩa vì khát vọng “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.
Trong nghìn năm Bắc thuộc, bấy giờ nước ta nằm dưới sự cai trị của nhà Đông Ngô. Tương truyền, Triệu Trinh Nương quê đất Quan Yên (Quân Yên), cha mẹ mất sớm nên ở với anh trai là Triệu Quốc Đạt. Cô gái Triệu Ẩu được biết đến là người có chí khí, mưu lược, dũng cảm. Để hiện thực hóa khát vọng đánh đuổi giặc ngoại xâm, Triệu Ẩu lên núi chiêu mộ quân sĩ, đêm ngày luyện tập, rèn luyện vũ khí, khi thế và lực đủ mạnh, nữ tướng Triệu Trinh Nương dẫn binh xuống núi đánh giặc, được tướng sĩ trên dưới một lòng kính nể, tôn làm chủ tướng. Lưu truyền dân gian kể lại, khi Bà Triệu xung trận đánh nhau với giặc thì cưỡi voi, mặc áo giáp vàng, xưng Nhụy Kiều tướng quân.
Sau một thời gian giao tranh, chiến đấu dũng cảm với giặc ngoại xâm, vì tương quan lực lượng, cuộc khởi nghĩa Bà Triệu không thể đi đến thắng lợi cuối cùng. Để giữ trọn khí tiết, tại căn cứ Bồ Điền, Bà Triệu đã lên đỉnh núi Tùng tuẫn tiết. Bấy giờ, người con gái họ Triệu mới ngoài 20 tuổi.
Với sự kính ngưỡng dành cho nữ anh hùng Triệu Trinh Nương, về sau các triều đại vua đã nhiều lần ban sắc phong, dân gian tôn gọi vua Bà, lập dựng đền thờ. Trên đất Bồ Điền (nay thuộc xã Triệu Lộc), cách núi Tùng một quãng ngắn, trên sườn núi Gai, người dân đã lập đền thờ vua Bà, dân gian gọi là đền thờ Bà Triệu.
Nữ tướng Triệu Trinh Nương và cuộc khởi nghĩa do Bà lãnh đạo đã khắc một mốc son rực rỡ vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trải qua hơn 1.700 năm, bản hùng ca ấy không phai mờ, mà thêm phần được tô thắm.
Người Việt Nam, khi nhắc đến Bà Triệu, lại ngâm nga câu ca từ thuở còn nằm nôi: “Ru con, con ngủ cho lành/ Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi/ Muốn coi lên núi mà coi/ Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”.
Người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc không chỉ tỏa sáng với hình tượng Bà Trưng, Bà Triệu đánh giặc cứu nước. Đó còn là người phụ nữ nhân hậu, tài đức vẹn toàn. Một người mẹ thảo hiền đã sinh ra vua Lê Thánh Tông - minh quân nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Đó chính là Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao.

Bia Khôn Nguyên Chí Đức Chi Lăng - bia Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao tại Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Lam Kinh.
Bà người Động Bàng (thuộc huyện Yên Định cũ), vào cung được phong Tiệp dư. Khi vua Lê Thái Tông chẳng may qua đời, Ngô Thị Ngọc Dao và con trai là hoàng tử Lê Tư Thành không tránh khỏi những năm tháng gian nan. Tuy nhiên, ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, là một người mẹ, bà Ngô Thị Ngọc Dao cố gắng nuôi dạy con trai Tư Thành thật tốt.
Sau loạn Nghi Dân, hoàng tử Tư Thành được các quan đại thần trong triều rước về kinh, tôn lên làm vua - tức vua Lê Thánh Tông - vị vua mở ra thời kỳ thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Các nhà nghiên cứu lịch sử nhìn nhận, phía sau vua Lê Thánh Tông, có vai trò quan trọng của người mẹ hiền - Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao.
Đáng nói, khi đã là mẹ vua, Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao vẫn giữ được cốt cách đáng quý của người phụ nữ Việt Nam. Bia Khôn Nguyên Chí Đức Chi Lăng (còn gọi là bia Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao) tại Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Lam Kinh, ngợi ca: “Hoàng Thái hậu... tính trời cẩn thận, đôn hậu, một niềm cần kiệm, không chuộng xa hoa... Không làm việc trái lẽ phải, không ở nơi không chính đáng, nghiêm mà không ác, giản dị mà trang nhã, lịch sự... trong cung đình, kẻ sang người hèn đều gọi người là Phật sống”. Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, “đối với Thái Tông thì có công chăm lo giúp đỡ, đối với Thánh Tông thì có công sinh dưỡng cù lao, đối với Thánh Thượng (Hiến Tông) thì tận tình mến thương. Đức sáng với trời đất, công rạng rỡ tam thánh...”.
Sau khi qua đời, Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao được truy tôn Quang Thục Hoàng Thái hậu, được khắc bia Khôn Nguyên Chí Đức Chi Lăng tại Lam Kinh. Nhắc đến bà, người đương thời và hậu thế nhớ đến một vị Hoàng Thái hậu mẫu mực, một người phụ nữ khiêm nhường, giản dị nhưng vẫn tỏa sáng khí chất.
Từ Hai Bà Trưng đến Bà Triệu, Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao... còn rất nhiều người phụ nữ Việt tài năng, khí phách trong lịch sử dân tộc. Tên tuổi của họ được lịch sử lưu danh, hậu thế nhắc nhớ, người đời kính ngưỡng.
Bài và ảnh: Trang Bùi
{name} - {time}
-
2026-03-06 16:03:00Người “vác tù và” làm đại biểu HĐND xã
-
2026-03-06 12:35:00Cuộc đời đức vua Lê Thần Tông và các bà phi
-
2026-03-06 10:29:00Người nghệ nhân giữ lửa, trao truyền chữ Thái cổ






