Bản hùng ca còn mãi (Bài 2): Anh hùng giải phóng dân tộc dựng nên nghiệp lớn
Lam Sơn không chỉ là một địa danh, đó còn là nơi phát tích - ghi dấu cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm kiên cường và vĩ đại. Thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn cứu nguy cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi “cuộc bể dâu” bị diệt vong, mở ra một trang mới - một thời kỳ mới. Và Bình Định vương Lê Lợi là Anh hùng giải phóng dân tộc.

Khu di tích lịch sử Lam Kinh trên đất Lam Sơn là “kinh đô tâm linh” của vương triều Hậu Lê.
Từ một Hội thề
Nơi đất Lam Sơn, Lê Lợi và các anh hùng, hào kiệt đã tụ họp và nuôi chí lớn. Đầu tháng 2 năm Bính Thân (1416) một sự kiện quan trọng đã diễn ra. Lê Lợi cùng với 18 người thân tín đã đến Lũng Nhai làm lễ tế cáo trời đất, nguyện chung quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm. Hội thề Lũng Nhai thiêng liêng của 19 người anh hùng hào kiệt trước “hồn thiêng” sông núi, nguyện đoàn kết, yêu thương, trung thành với mục tiêu đánh giặc cứu nước.
Sau thời gian chuẩn bị, lực lượng nghĩa quân Lam Sơn từng bước lớn mạnh. Nghe danh “chúa Lam Sơn” và nắm bắt được sự chuẩn bị khởi nghĩa của Lê Lợi, quân Minh đã dùng nhiều thủ đoạn để mua chuộc song bất thành. Bởi vậy, chúng ráo riết dò la, lên kế hoạch đàn áp như đã từng với những cuộc khởi nghĩa trước đó. Hiểu rõ âm mưu của giặc, đầu năm 1418, Lê Lợi và nghĩa quân quyết dựng cờ khởi nghĩa.
Là thủ lĩnh tối cao, Lê Lợi xưng Bình Định vương, truyền hịch khắp nơi kêu gọi Nhân dân cùng dốc sức đánh giặc. “Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ thực sự mở đầu một thời kỳ mới trong lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. (...) Chủ nghĩa yêu nước, khí phách anh hùng và tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa là cội nguồn sức mạnh tinh thần và vật chất sâu xa nhất của khởi nghĩa Lam Sơn” (sách Khởi nghĩa Lam Sơn 1418-1427).
10 năm kháng chiến
Những ngày đầu khởi nghĩa, dù đã có sự chuẩn bị song so với lực lượng hùng hậu của quân Minh, lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn thực sự không lớn. Vừa phát động, khởi nghĩa Lam Sơn đã phải đối mặt với sự vây ráp, đàn áp của kẻ xâm lược. Từ Tây Đô, Tổng binh Lý Bân phái tướng dẫn quân lên càn quét đất Lam Sơn. Sau những chiến đấu can trường, lượng sức không thể đối đầu trực tiếp, Bình Định vương Lê Lợi liền rút quân lên miền rừng núi. Giặc truy đuổi ráo riết, nghĩa quân buộc phải rút lên núi Chí Linh - dựa vào thế hiểm trở của núi rừng để tạm lánh. Tuy nhiên, không phải đối đầu trực diện song nghĩa quân Lam Sơn bị giặc “khép vòng vây”, chặn các đường tiếp viện. Cạn lương thảo, người ngựa đều khốn khổ.
Trong tình thế nguy nan ấy, Lê Lai đã dẫn theo binh, cải trang làm Lê Lợi, xưng “chúa Lam Sơn” kéo xuống đối đầu với giặc Minh. Với lực lượng áp đảo, sau những giao đấu, giặc Minh bắt được Lê Lai và các nghĩa binh, tưởng rằng đã tiêu diệt được thủ lĩnh Lê Lợi, kẻ địch rút về thành Tây Đô. Nhờ sự hy sinh anh dũng của Lê Lai và những nghĩa binh cảm tử, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn mới thoát khỏi vòng vây hiểm nghèo.
Địa bàn hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn từ Lam Sơn dần di chuyển, mở rộng lên vùng thượng du Thanh Hóa. Đã có những lúc nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn, rơi vào tình thế nguy nan: “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần/ Lúc Khôi huyện quân không một lữ” (Bình Ngô đại cáo). Dẫu vậy, giặc Minh vẫn không thể đàn áp cuộc khởi nghĩa.

Du khách về Lam Kinh nghe chuyện kể về Khu di tích và những chuyện kể về Anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi.
Vào cuối năm 1424, theo kế của tướng Nguyễn Chích, Bình Định vương Lê Lợi quyết định tiến vào đất Nghệ An. Đây không chỉ là nơi hiểm yếu, nếu chiếm được Nghệ An, nghĩa quân sẽ làm chủ một vùng đất rộng, người đông, cung cấp nguồn lực và tạo ra những chuyển biến căn bản cho cuộc khởi nghĩa.
Vào đất Nghệ An, dưới sự lãnh đạo của Bình Định vương Lê Lợi và sức chiến đấu anh dũng của tướng sĩ trên dưới đồng lòng, nghĩa quân Lam Sơn hạ được thành Trà Long làm chỗ “đứng chân”. Những chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn ở ải Khả Lưu, Bồ Ải gây ra những tổn thất mạnh mẽ. Từ đây, lần lượt các châu, huyện trên đất Nghệ An cũng từng bước được giải phóng. Sang năm 1425, Nghệ An gần như đã được giải phóng. Nối tiếp đó là giải phóng các vùng Diễn Châu, Tây Đô (Thanh Hóa), Tân Bình, Thuận Hóa.
Những thắng lợi quan trọng trong hai năm 1424-1425 đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cuộc khởi nghĩa và nghĩa quân Lam Sơn. “Từ một đội du kích nhỏ bé ở miền núi rừng Thanh Hóa, có khi tiêu hao chỉ còn trên 100 người, đến nay lực lượng nghĩa quân đến hàng vạn quân gồm cả quân thủy, quân bộ, cả voi chiến, thuyền chiến. Càng chiến thắng và càng tiến xuống miền đồng bằng đông dân thì lực lượng nghĩa quân càng được bổ sung và phát triển nhanh chóng” (sách Khởi nghĩa Lam Sơn 1418-1427).
Giải phóng dân tộc
Mùa thu năm 1426, Bình Định vương Lê Lợi nhận thấy quân tinh nhuệ của nhà Minh phần nhiều đang tập trung ở Nghệ An, ngoài Đông Đô quân ít sức yếu. Đây là thời điểm để tốc lực cho cuộc khởi nghĩa. Người đứng đầu khởi nghĩa Lam Sơn đã sai các tướng Lý Triện, Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Đỗ Bí ra đánh Quốc Oai, Quảng Oai, Gia Hưng, Quy Hóa, Đà Giang, Tam Đái, Tuyên Quang để chặn đường viện binh của quân nhà Minh từ Vân Nam sang. Đồng thời, sai các tướng Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra đánh Thiên Trường, Kiến Xương, Tân Hưng, Lạng Giang... để chặn đường viện binh từ Lưỡng Quảng sang. Còn các tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân ra đánh Đông Quan.

Lăng mộ vua Lê Thái Tổ - người Anh hùng giải phóng dân tộc, cũng là vị vua sáng lập nên vương triều Hậu Lê.
Nghe tin quân Minh ở nước ta bị thất thế, tướng nhà Minh là Vương Thông đã dẫn theo 5 vạn viện binh, theo đường Lạng Sơn ào ạt tiến về thành Đông Quan. Từ Đông Quan, đại quân Minh chia làm ba cánh quân - tạo “bàn đạp” để phản công. Cánh thứ nhất do Vương Thông trực tiếp chỉ huy; cánh thứ hai do Lý An, Phương Chính chỉ huy; cánh thứ ba do Sơn Thọ, Mã Kỳ chỉ huy. Ba cánh quân giặc tạo thành thế trận bao vây và tiến công lợi hại, có thể tiếp ứng cho nhau.
Trước âm mưu của giặc, Bộ chỉ huy tối cao của khởi nghĩa Lam Sơn đã đánh giá đúng tình hình, hoạch định kế hoạch ứng chiến mới, biến nguy thành cơ.
Với lực lượng được tăng cường, giặc Minh tưởng chừng có thể giành lại thế chủ động chiến lược, từ đó áp đảo và tiêu diệt khởi nghĩa Lam Sơn của Nhân dân ta. Tuy nhiên, trận Cổ Lãm quân ta đã “bẻ gãy” mũi tiến công của giặc Minh; chiến thắng Tốt Động - Chúc Động đập tan cuộc phản công của Vương Thông, quân Minh thất thế; chiến thắng Chi Lăng “đập gãy tiên phong”, Liễu Thăng tử trận; tiếp đó là chiến thắng Cần Trạm, Phố Cát (Phố Cát là vùng đất nằm giữa Cần Trạm và Xương Giang), đánh tan đạo quân Mộc Thạnh, chiến thắng Xương Giang quét sạch viện binh nhà Minh. Và cuộc kháng chiến chống nhà Minh xâm lược khép lại với Hội thề Đông Quan.
Hội thề Đông Quan được lập định, đất nước thoát khỏi cuộc bể dâu bị nô lệ. Sau 10 năm bền bỉ kháng chiến, khởi nghĩa Lam Sơn đã giành thắng lợi trọn vẹn, chấm dứt hoàn toàn 20 năm thuộc Minh của dân tộc ta.
Khởi nghĩa Lam Sơn thành công, Anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên vương triều nhà Lê (Hậu Lê), mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc.
(Còn nữa)
Khánh Lộc
{name} - {time}
-
2026-09-30 07:03:00Chiếu 1.000 tựa phim Việt chọn lọc trên sóng truyền hình Hà Nội
-
2026-09-29 17:40:00Bản hùng ca còn mãi (Bài 1): Từ cuộc “bể dâu” của dân tộc
-
2026-09-29 10:01:00Câu chuyện của những “Đại sứ Văn hóa đọc”







