(vhds.baothanhhoa.vn) - Được hình thành bởi quá trình bồi đắp của phù sa sông và quá trình “vận động” của biển, làng Kim Cốc, phường Hải Bình (trước đây làng thuộc phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn) nằm trong không gian vùng đất “Nam Thanh, Bắc Nghệ”. Có lịch sử lập làng 600 năm, Kim Cốc còn là vùng đất cổ với những dấu tích về lịch sử, văn hóa.

Đất làng Kim Cốc

Được hình thành bởi quá trình bồi đắp của phù sa sông và quá trình “vận động” của biển, làng Kim Cốc, phường Hải Bình (trước đây làng thuộc phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn) nằm trong không gian vùng đất “Nam Thanh, Bắc Nghệ”. Có lịch sử lập làng 600 năm, Kim Cốc còn là vùng đất cổ với những dấu tích về lịch sử, văn hóa.

Đất làng Kim Cốc

Làng Kim Cốc xưa nay là tổ dân phố Kim Sơn, phường Hải Bình.

Nằm cách bờ biển khoảng 2km, Kim Cốc là một làng quê duyên hải ven biển phía Nam xứ Thanh. Ở Kim Cốc còn sự xen kẽ, bao bọc của các ngọn núi, được người dân đặt tên. Như phía Nam có núi Cốc (hay núi Kim Cốc), phía Bắc có núi Tháp Sơn và phía Đông là biển. Cũng bởi địa hình bị chia cắt, nhiều gò đống nổi lên, dưới chân núi là sình lầy, ngập mặn mỗi khi nước triều lên xuống, nên khi xưa ở Kim Cốc, quá trình khai phá đất đai, đồng ruộng trải qua nhiều khó khăn.

Tại sườn núi Tháp (Tháp Sơn) và những gò đất cao ở Kim Cốc, năm 1977 các nhà khảo cổ học đã từng tìm thấy những hiện vật đồ đồng và gốm được cho là của thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Có giả thuyết cho rằng, thời kỳ văn hóa Đông Sơn, phải chăng Kim Cốc đã từng có người Việt cổ sinh sống, tuy nhiên có thể vì những khắc nghiệt của thiên nhiên ở vùng đất ven biển nên đã vắng bóng những lớp dân cư giai đoạn về sau.

Sau giai đoạn Bắc thuộc, với vị trí gần sông, kề biển, Kim Cốc nói riêng, vùng duyên hải phía Nam xứ Thanh nói chung lại trở thành điểm dừng chân của các đoàn quân “Nam tiến” trong quá trình bình định và mở mang bờ cõi về phía Nam của các triều đại. Và con đường hành quân Nam tiến này qua đất Kim Cốc - Mai Lâm bắt đầu từ khi vua Lê Đại Hành cho đào kênh từ Đồng Cổ (Yên Định cũ) đến Bà Hòa (ở phía Nam Tĩnh Gia - thị xã Nghi Sơn cũ) để vào Nghệ An... Về sự kiện này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “... Khi vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng đánh to khó đi lại, bèn sai người đào kênh. Đến đây làm xong, thuyền bè đi lại đều được thuận tiện”.

Đến thời Lý - Trần, Kim Cốc nằm trong không gian của vùng đất “phên dậu” của Đại Việt. “Đây là vùng đất nằm trong tuyến hậu cần Bà Hòa do Uy Minh vương Lý Nhật Quang (con trai vua Lý Thái Tổ) xây dựng và ông cũng là người được triều đình cho đảm trách trị nhậm khi làm Tri châu Nghệ An. Cả vùng Du Độ bao gồm các làng Ngọc Đường, Kim Cốc, Cao Lư, Vinh Quang trở thành một vùng đất mà Lý Nhật Quang cho xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng”.

Tuy vậy, phải đến thế kỷ XV, việc hình thành nên làng Kim Cốc mới thực sự rõ ràng. Và đến cuối thời Lê, Kim Cốc trở thành một làng lớn phát triển ổn định thuộc tổng Duyên La, huyện Ngọc Sơn với đầy đủ các thiết chế văn hóa, xã hội như đình, chùa, văn chỉ...

Việc lập dựng làng Kim Cốc gắn liền với công lao của các dòng họ lớn như Lê Nhân, Nguyễn, Trần. Theo phả Lê Nhân đại tộc phả ký (phả ký dòng họ Lê Nhân) đầu thế kỷ XV, có ông Lê Nhân Thực người miền ngoài, gặp buổi loạn lạc nên đã đưa gia đình chạy vào đất Thanh Hóa. Lúc đầu vào ở vùng đất Lương Niệm (gần sông Yên) sau vài năm thì dời đến vùng đất Bộ Đầu (cửa sông Bạng) được hai, ba năm lại dời nhà, về sau đến chân núi Đòn khẩn hoang ở Đồng Cao, Mũi Róc, Cồn Cách. Khi khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, ông Lê Nhân Thực cho dời nhà đến chân núi Tháp gây dựng cơ nghiệp lâu dài. Tại đây, người họ Lê Nhân (Lê Nhân Thực) cùng với họ Nguyễn (Nguyễn Thời Vụ) và họ Trần (Trần Công Sủng) đã cùng nhau khai phá đất hoang lập nên làng Kim Cốc.

Và Kim Cốc là quê hương của Đông Các Đại học sỹ Lê Nhân Quý - vị công thần đã có công dẹp loạn Nghi Dân, đưa Lê Tư Thành (tức Lê Thánh Tông) lên ngôi vua. Lê Nhân Quý là con trai cụ Lê Nhân Thực văn võ toàn tài, từng giữ nhiều trọng trách trong triều đình nhà Lê, ông có công theo vua Lê Thánh Tông đi đánh dẹp Chiêm Thành.

Không chỉ có công trạng với triều đình, đất nước, sinh thời, cụ Lê Nhân Quý còn có nhiều đóng góp cho quê hương, một trong những việc làm ý nghĩa của ông đến nay còn được hậu thế nhắc nhớ là đã xây dựng thành công hệ thống đê Hoàng Các.

Tương truyền, đê Hoàng Các được đắp dưới thời vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và do Lê Nhân Quý trực tiếp tổ chức thực hiện. Trước đấy, khi cụ Lê Nhân Thực đến vùng đất này khai hoang cùng người của một số dòng họ, việc chưa có đê ngăn nước mặn từ biển khiến đất đai ở đây chủ yếu vẫn là sình lầy, ngập mặn và hoang hóa.

Thời vua Lê Thánh Tông, nhà vua rất quan tâm đến việc khai phá đất đai, thành lập các trại, xóm làng, đặc biệt là ở những vùng đất bồi ven viển. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhà vua đã lệnh cho các phủ, huyện, xã nơi nào có ruộng bỏ hoang ở bờ biển mà người ít ruộng tình nguyện bồi đắp để khai khẩn nộp thuế thì phủ, huyện, xã cấp cho làm.

Đất làng Kim Cốc

Giếng cổ trên đất làng Kim Cốc, tương truyền được đào từ thời cụ Lê Nhân Thực, cung cấp nước ăn cho cả làng.

Và để có thể làm nông nghiệp ở vùng ven biển thì việc đắp đê ngăn mặn là điều quan trọng. Theo Lê Nhân đại tộc phả ký, khoảng cuối đời Hồng Đức, đầu niên hiệu Cảnh Thống, cụ được ý chỉ của vua, cùng với Hoàng Thái hậu sung lính của 3 phủ (Thiệu Hóa, Hà Trung, Tĩnh Gia) về phụ đắp con đê ngăn mặn từ Đông Tháp Sơn đến cồn Mả Nghè thôn Vinh Quang, dài gần 1km mà người cha và dân làng đã khổ công nhiều năm nhưng chưa thành, đặt tên là Hoàng Các đê. Và theo lý giải, việc đặt tên đê Hoàng Các nhằm tưởng nhớ công đức của Hoàng Thái hậu và Đông Các Đại học sĩ Lê Nhân Quý.

Đê Hoàng Các trên đất làng Kim Cốc không dài song có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định đời sống người dân. Đê ngăn nước mặn từ cửa biển theo sông vào làng Kim Cốc, góp phần làm tăng diện tích ruộng đất canh tác. Những dải đất bị nhiễm mặn do thủy triều từng bước được cải tạo thành đồng ruộng. “Trên thực địa ngày nay, với đê Hoàng Các giá trị không chỉ tạo ra một diện tích trồng trọt, mà quan trọng hơn là ý chí “dời non lấp biển” và tạo thành một trào lưu ngăn nước biển, cải tạo chất đất, tăng diện tích canh tác ở các vùng ven biển Thanh Hóa” (sách Đông Các Đại học sĩ Lê Nhân Quý danh nhân lịch sử thời Lê sơ thế kỷ XV).

Nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Tấn, nhìn nhận: “Chính nhờ con đê Hoàng Các này mà hàng trăm mẫu đất sình lầy, hoang hóa và ngập mặn ở vùng đất Kim Cốc - Mai Lâm đã trở thành những xứ đồng trồng trọt ăn chắc. Điều đó đã làm thay đổi cơ bản cục diện kinh tế của người dân Kim Cốc - Mai Lâm từ thế kỷ XV cho đến ngày nay”.

Đi qua thời gian với nhiều biến động của lịch sử, vùng đất Kim Cốc hôm nay cũng trải qua nhiều đổi thay, nhiều công trình chỉ còn được nhắc đến với những tên gọi và dấu tích còn sót lại, làng Kim Cốc xưa nay mang tên gọi mới - tổ dân phố Kim Sơn. Tuy vậy, truyền thống lịch sử, văn hóa như mạch nguồn, âm thầm chảy trôi, được các dòng họ, người dân nơi đây trân trọng gìn giữ, tôn tạo và bồi đắp - ông Lê Trọng Tấn, trưởng tộc họ Lê Nhân làng Kim Cốc, phường Hải Bình, chia sẻ.

(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Đông Các Đại học sĩ Lê Nhân Quý danh nhân lịch sử thời Lê sơ thế kỷ XV, NXB Thanh Hóa, 2010; và một số tài liệu lưu giữ tại địa phương).

Bài và ảnh: Khánh Lộc



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]