Giữ lại “nhịp nan” (Bài 1):
Gìn giữ và trao truyền “ngọn lửa” đam mê
Trong dòng chảy không ngừng của xã hội hiện đại, khi những vật dụng công nghiệp ngày càng phổ biến ở các bản làng vùng cao, vẫn có những người vẫn miệt mài, lặng lẽ gìn giữ nghề đan lát. Từ sợi vầu, sợi nứa mộc mạc, qua bàn tay khéo léo và kiên nhẫn của người thợ, từng sản phẩm ra đời gần gũi với thiên nhiên, vừa độc đáo, vừa đẹp mắt.

Trải qua nhiều thăng trầm, nghề đan lát truyền thống vẫn được người dân thôn Lau (xã Điền Quang) gìn giữ.
Những ngón tay “trổ hoa” giữa đại ngàn
Vùng cao xứ Thanh không chỉ nổi tiếng với cảnh quan núi rừng hùng vĩ hay những nét văn hóa đậm đà bản sắc vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) mà còn ấn tượng bởi các làng nghề đan lát thủ công truyền thống. Ở nhiều bản làng, vẫn có những người vẫn đang lặng lẽ, miệt mài gìn giữ và trao truyền ngọn lửa đam mê cho thế hệ tiếp theo.
Nghề đan lát từ bao đời là nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái xã vùng biên Yên Khương. Sản phẩm đan lát không chỉ được dùng trong đời sống sinh hoạt, lao động hằng ngày mà còn được dùng làm quà tặng, đồ trang trí. Do chịu sức ép từ các mặt hàng, vật dụng bằng nhựa và inox giá rẻ, người dân quên dần những sản phẩm tự nhiên từ nứa, vầu, người biết đan lát vì vậy cũng chẳng còn mấy người. Bằng tâm huyết và trách nhiệm, ông Lò Văn Quang, một thợ đan lát có tiếng ở bản Tứ Chiềng đã tích cực tuyên truyền, vận động bà con giữ nghề.
Nhớ lại hành trình gắn bó với nghề, ông Quang kể rằng, đan lát đã theo mình từ thuở nhỏ. Ký ức tuổi thơ êm đềm gắn liền với những ngày ngồi bên bố mẹ học cách chẻ, vót nan, tập đan những vật dụng đơn giản dùng trong sinh hoạt hằng ngày. Theo ông, để làm ra những chiếc rổ, rá, mâm, nơm bắt cá, lồng nuôi gà, gùi lúa, nia sàng lúa... người đan phải vào rừng mất vài ngày, thậm chí cả tuần để chọn lựa nguyên liệu.
“Mỗi sản phẩm khi hoàn thành là kết quả của nhiều công đoạn, cộng thêm người thợ phải có kinh nghiệm và nắm vững kỹ thuật đan. Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo, nếu kiên trì, chịu khó sẽ biết đan đẹp", ông Quang chia sẻ.
Với mong muốn giữ lại nghề đan lát truyền thống của cha ông, nên dù giá trị kinh tế đem lại không cao, thu nhập bấp bênh nhưng bà Hà Thị Nga (67 tuổi, thôn Xay Luồi, xã Điền Quang) vẫn gắn bó với nghề. Tuổi đã cao, không còn nhanh nhẹn như trước mà mỗi ngày bà vẫn miệt mài, cần mẫn bên những sợi tre, luồng. Các sản phẩm được bà làm ra có giá trị sử dụng cao, thể hiện tính thẩm mỹ, bàn tay khéo léo của người đan.

Hiện nay, các sản phẩm đan lát có mặt ở khắp mọi nơi, từ gia đình, chợ dân sinh đến nhà hàng, homestay.
Bà Nga chia sẻ: “Không hiểu từ khi nào nghề này đã “ngấm” vào con người tôi, trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Hiện nay, các sản phẩm đan lát được làm ra chủ yếu bằng thủ công, chưa có sử dụng các phương tiện máy móc hỗ trợ nên đồ dùng làm ra nhờ sự chịu khó, mày mò, nhiệt huyết và niềm đam mê của người thợ”.
Mỗi “sản phẩm” là một câu chuyện
Trải qua nhiều thăng trầm và có nguy cơ mai một, nghề đan lát truyền thống của đồng bào dân tộc vùng cao xứ Thanh vẫn được gìn giữ, phát huy. Qua đôi bàn tay khéo léo, tỉ mỉ của người đan, những sợi nan, tre thô cứng trở thành nhiều vật dụng tinh xảo, hữu ích không chỉ phục vụ trong nếp sinh hoạt thường ngày mà còn là để gìn giữ những giá trị văn hóa của cha ông để lại. Những chiếc giỏ, làn đi chợ hay chiếc gùi, lồng đèn trang trí giờ đây đã trở thành hàng hóa có giá trị kinh tế, mang lại thu nhập ổn định cho bà con.
Ông Vi Đình Thoan (bản Bôn, xã Yên Khương), một trong những người đam mê với nghề đan lát, cho biết: “Trong nhịp sống hiện đại, giữ được nghề là điều không dễ dàng. Để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh, có tính thẩm mỹ và độ bền cao, ngoài yếu tố nguyên liệu, kinh nghiệm của người đan, quan trọng nhất vẫn là tình yêu, niềm đam mê gửi gắm vào từng nan tre, sợi mây. Để nghề đan lát luôn duy trì và phát triển, bên cạnh tâm huyết của người thợ, rất cần sự quan tâm trong việc truyền dạy nghề, khơi dậy niềm tự hào cho thế hệ trẻ. Khi tìm kiếm đầu ra ổn định, tạo được thu nhập, tôi tin nghề truyền thống của cha ông sẽ mãi được bảo tồn và phát triển, việc trao truyền nghề cũng sẽ có thêm động lực”.

Nhiều sản phẩm đan lát của ông Vi Văn Hiền (bản Ngàm, xã Sơn Điện) được nhiều du khách yêu thích.
Năm nay, ông Vi Văn Hiền (bản Ngàm, xã Sơn Điện) đã bước sang tuổi 72, đôi mắt vẫn tinh tường, đôi tay vẫn rắn rỏi, dẻo dai, khéo léo trong từng nhát dao để chẻ, vót đến những đường đan, sợi nan đan móc vào nhau chính xác, đẹp mắt. Trong ký ức của ông Vi Văn Hiền, trước đây, đan lát gần như là kỹ năng không thể thiếu của bất kể ai ở bản. Người lớn làm, trẻ nhỏ nhìn rồi học từng công đoạn từ đơn giản đến phức tạp.
Theo ông Hiền, nghề đan lát thủ công có rất nhiều kỹ thuật đan từ đơn giản đến phức tạp, mỗi khâu đều có sự độc đáo và sức hút riêng. Tùy từng loại sản phẩm mà người đan phải điều chỉnh độ dày, độ thưa của sợi nan và cách tạo kiểu sao cho phù hợp. Chỉ cần một vài đường nan bị lệch hoặc không đều, sản phẩm có thể mất đi tính thẩm mỹ, bền chắc trong quá trình sử dụng. Do sản xuất 100% từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, không hóa chất độc hại, giá cả hợp lý, nhiều vật dụng từ tre, nứa được người dân ngày càng ưa chuộng. Hiện ông cũng sử dụng các sản phẩm đan lát, thổ cẩm để trang trí cho homestay của gia đình.
Để nghề đan lát không chỉ mang lại sinh kế cho người dân mà còn góp phần giữ gìn, trao truyền nét văn hóa độc đáo này, thời gian qua, nhiều lớp dạy đan lát, mô hình liên kết sản xuất được hình thành, giúp kết nối sản phẩm của bà con với các thị trường tiềm năng. Điển hình như Tổ hợp tác sản xuất mây tre đan xuất khẩu thôn Lau (xã Điền Quang), tổ đan lát truyền thống bản Ngàm (xã Sơn Điện), mô hình đan lát truyền thống xã Yên Khương... Những mô hình này không chỉ giúp bà con có thêm việc làm, cải thiện thu nhập và tận dụng lợi thế từ nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương mà còn góp phần bảo tồn và phát huy nghề truyền thống cha ông để lại.
Với bà con vùng cao, những vật dụng đan lát được làm từ nguyên liệu tre, luồng tự nhiên sẵn có tại địa phương như một sợi dây gắn kết giữa nhiều thế hệ, giúp con cháu biết trân trọng, yêu quý hơn là cảm nhận và học về tinh thần yêu lao động từ cha ông.
Đan lát truyền thống là sinh kế gắn bó lâu đời, là bản sắc văn hóa của đồng bào khu vực miền núi. Tuy nhiên, trước guồng quay hiện đại, nghề thủ công này đang đối diện với nhiều thách thức trong việc bảo tồn và phát huy giá trị. |
Bài và ảnh: Trung Lê
{name} - {time}
-
2026-10-02 06:56:00Chủ động chăm sóc sức khỏe học sinh mùa mưa bão
-
2026-10-02 06:20:00Ngày này năm xưa (2/10): Bác Hồ nhắn nhủ “Phải lấy được lòng dân”
-
2026-10-01 15:11:00Kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo: 6 điểm đáng chú ý từ 1/10





![[Thanh Hóa xưa và nay] Dấu xưa trên đất Hạc Thành](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2639/280d4083317t1800l1-280d4083257t1806.webp)
