(vhds.baothanhhoa.vn) - Nghệ sĩ nhiếp ảnh (NSNA) Trần Đàm thuộc số những người hiếm, ông hội tụ ba yếu tố căn cốt là tâm huyết, tài năng và sức khỏe để tận hiến với nghề. Nhìn ông lặn lội nơi thực địa, bấm máy giữa những công trình đại thủy nông lộng gió, tôi chợt hiểu vì sao ống kính của người nghệ sĩ này chưa bao giờ biết mỏi. Tập ký sự ảnh Hồ đập Thanh Hóa (NXB Thanh Hóa, 2024) không chỉ là cuốn tư liệu bằng hình ảnh, mà còn là sự đồng điệu giữa tư duy nghệ thuật đổi mới với nhịp đập nghẹn ngào, kiêu hãnh của hiện thực đời sống sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Không gian sinh thái Hồ đập xứ Thanh

Nghệ sĩ nhiếp ảnh (NSNA) Trần Đàm thuộc số những người hiếm, ông hội tụ ba yếu tố căn cốt là tâm huyết, tài năng và sức khỏe để tận hiến với nghề. Nhìn ông lặn lội nơi thực địa, bấm máy giữa những công trình đại thủy nông lộng gió, tôi chợt hiểu vì sao ống kính của người nghệ sĩ này chưa bao giờ biết mỏi. Tập ký sự ảnh Hồ đập Thanh Hóa (NXB Thanh Hóa, 2024) không chỉ là cuốn tư liệu bằng hình ảnh, mà còn là sự đồng điệu giữa tư duy nghệ thuật đổi mới với nhịp đập nghẹn ngào, kiêu hãnh của hiện thực đời sống sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Không gian sinh thái Hồ đập xứ Thanh

Đập Bái Thượng. Ảnh: Trần Đàm

1. Để một tập ký sự ảnh về đề tài vốn bị coi là “khô như đá, cứng như bê tông” có thể chạm vào trái tim người xem, tác phẩm đó phải được thai nghén từ những cơ duyên lớn của cuộc đời. Với NSNA Trần Đàm, cơ duyên ấy không đến từ một sự ngẫu hứng tình cờ, mà đó là kết quả tất yếu của một món nợ ân tình với đất đai xứ Thanh. Trọn một đời vác máy, ống kính của ông đã đi qua biết bao thăng trầm, từ những năm tháng bom đạn ác liệt cho đến buổi bình minh đổi mới. Thế nhưng, khi đứng trước những lòng hồ bao la hay những con đập sừng sững, người nghệ sĩ lão thành này không nhìn chúng như những hạng mục hạ tầng vô tri. Ông nhìn thấy ở đó dòng mồ hôi của hàng vạn con người đã đổ xuống để đổi lấy màu xanh cho đồng ruộng, nhìn thấy mạch ngầm sự sống đang âm thầm nuôi dưỡng từng thớ đất quê hương. Chính niềm trăn trở muốn “định hình” di sản ấy bằng ngôn ngữ thị giác đã dẫn lối ông gặp gỡ một người đồng hành lý tưởng: Kỹ sư - chuyên gia cao cấp ngành thủy lợi Phạm Xuân Quý.

Sự gặp gỡ giữa hai con người ở hai lĩnh vực tưởng chừng như hai đường thẳng song song ấy lại chính là cái duyên lớn làm nên tầm vóc của công trình. Kỹ sư Phạm Xuân Quý mang đến cho tập sách một bộ khung xương vững chãi bằng tri thức thực địa sắc lẹm và kho tàng tài liệu kỹ thuật mực thước của một chuyên gia thủy lợi. Ngược lại, NSNA Trần Đàm lại dùng trái tim nhạy cảm và ống kính giàu chất thơ để thổi hồn vào những khối bê tông, biến những thông số toán học khô khan thành những câu chuyện kể đầy xúc động.

2. Đi sâu vào từng tác phẩm, sự đồng cảm của người cầm máy hiện lên rõ nét qua cách chọn góc nhìn và sử dụng ánh sáng tự nhiên. Ở những vùng cao như hồ Pù Cú tại bản La (Quan Sơn), tác giả không cố gắng phô diễn sự đồ sộ của công trình bê tông hóa để áp đặt lên cảnh quan. Ông chọn góc máy ngang trục, nhường không gian cho nếp nhà nổi có dáng nhà sàn hòa vào thảm xanh rừng núi cùng hệ thống cọc luồng mờ ảo trong sương. Sự hài hòa này tạo nên một cảm giác gần gũi, chứng minh rằng công trình thủy lợi sinh ra là để che chở, nâng đỡ cuộc sống của đồng bào chứ không phải để phá vỡ vẻ đẹp nguyên sơ của bản làng.

Nếu cấu trúc tổng thể mang lại sự vững chãi cho tập sách, thì chính những góc máy cận cảnh tại các đại công trình mới là nơi bộc lộ rõ nhất chất thơ mộc mạc hòa quyện trong sự nghiêm túc của bút pháp tạo hình. Tác giả không né tránh sự thô cứng của bê tông cốt thép mà khéo léo đặt chúng vào giữa dòng chảy của đời sống và thiên nhiên xứ Thanh. Qua góc ảnh của NSNA Trần Đàm, hồ Cửa Đạt không hiện lên như một khối bê tông cô độc. Phía trên công trình là những dải mây ngàn ôm lấy lòng hồ, nhìn xuống lại thấy con thuyền như dấu huyền điểm xuyết cho không gian của sự sống. Sự tương phản giữa nét khỏe khoắn của công trình kỹ thuật và sự mềm mại của sương khói đại ngàn tạo nên một hình ảnh đẹp nhưng thực tế, ghi lại một kỳ tích trị thủy nơi thượng nguồn sông Chu.

Không gian sinh thái Hồ đập xứ Thanh

Hồ Bến En. Ảnh: Trần Đàm

Xuôi dòng sông Chu, người xem lại gặp một không gian đậm màu sắc văn hóa và lịch sử thông qua bức ảnh “Đập Bái Thượng”. Đó không chỉ là công trình dâng nước và dẫn thủy nhập điền cho hơn 50.000ha đất canh tác, mà còn là một di sản kỹ thuật, một chứng nhân lịch sử của quá trình khai mở và phát triển nền nông nghiệp tưới vùng hạ lưu sông Chu.

Khi chuyển dịch không gian sang vùng di sản thiên nhiên hồ Bến En, ống kính lại lùi xa để nhường chỗ cho sự bao la của mặt nước và màu xanh ngút ngàn, thắm sắc tiên cảnh, hoang sơ cộng hưởng với những con tàu hiện đại di chuyển, để lại vệt sóng tản mạn, huyền ảo, nên thơ. Đây là một góc nhìn khách quan và giàu tính sinh thái: hồ thủy lợi ở Bến En không dừng lại ở việc điều tiết nước, mà gắn liền với câu chuyện bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn môi trường xanh cho tương lai.

Tuy nhiên, sự kiên nhẫn và lòng yêu nghề của tác giả lại được thể hiện rõ nhất ở những vùng cao hẻo lánh như hồ Pha Đay. Nằm giữa đại ngàn mây phủ, công trình hiện lên mộc mạc như một viên ngọc thô ẩn mình trong sương. Tác giả đã “canh” được khoảnh khắc dòng nước trong vắt từ khe núi đổ về lòng hồ, xung quanh là vạt rừng nguyên sinh. Bức ảnh “Hoa lưới” chạm đến người xem bằng sự chân thực, không tô vẽ, ghi nhận dòng nước ngọt đang âm thầm nuôi sống những bản làng người Thái, người Mường miền biên viễn.

Mạch chảy của cuốn sách trở nên sinh động lại bằng hình ảnh hồ Đồng Chiệc ngay giữa lòng TP Thanh Hóa (nay là phường Hạc Thành). Góc máy từ công viên thu vào mặt hồ phẳng lặng phản chiếu hàng cây xanh, sắc hoa rực rỡ và những lối đi quanh hồ tạo nét cong như dáng người con gái... Đây vừa được xem là hồ “điều hòa” vừa là không gian kiến trúc cảnh quan, mang lại sự bình yên, thư thái cho người dân đô thị sau những giờ lao động; minh chứng cho sự chuyển dịch công năng của hồ đập trong thời đại mới.

Hành trình bằng hình ảnh này sẽ thiếu đi sự trọn vẹn nếu bỏ qua những hồ chứa vừa và nhỏ rải rác khắp các miền quê. Nếu các công trình lớn là những điểm nhấn mạnh mẽ, thì những hồ chứa ở vùng bán sơn địa và trung du lại giống như những giai điệu gần gũi, gắn bó mật thiết với từng mùa lúa, mùa khoai của người nông dân. Những bức ảnh chụp hồ Cây Ấu, hồ Cống Khê, hồ Thung Bằng, Nhà máy thủy điện Bàn Thạch - Thọ Xuân, hồ Hao Hao, công trình ngăn mặn sông Lèn... đó là những mảnh ghép, mà tập ký sự ảnh đã kết nối các vùng sinh thái.

Sự có mặt đầy đủ từ các công trình lớn đến những lòng hồ nhỏ bé chứng minh một góc nhìn nhất quán: mọi giọt nước trên mảnh đất này đều bình đẳng, mọi công trình dù quy mô thế nào đều đáng trân trọng khi nó mang sứ mệnh phụng sự cuộc sống của Nhân dân.

3. Nhìn một cách tổng thể, tập ký sự ảnh Hồ đập Thanh Hóa của NSNA Trần Đàm và kỹ sư Phạm Xuân Quý đã vượt ra khỏi ranh giới của một tập album thông thường để trở thành một tư liệu văn hóa có giá trị lâu dài. Giải A Giải thưởng Văn học nghệ thuật hàng năm theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh là sự ghi nhận xứng đáng cho một hành trình dấn thân nghiêm túc và bền bỉ. Tác phẩm chứng minh rằng khi người nghệ sĩ đặt ống kính vào trung tâm đời sống lao động của Nhân dân, kết hợp với tư duy khoa học chặt chẽ và tính nghệ thuật, thì hình ảnh tạo ra tự khắc sẽ có sức sống bền vững.

Không gian sinh thái Hồ đập xứ Thanh

Cuốn sách mở ra một hướng đi ý nghĩa cho nhiếp ảnh tư liệu, khẳng định rằng sự kết hợp giữa nghệ thuật thị giác và kiến thức thực địa chính là chìa khóa để tạo nên những tác phẩm có chiều sâu. Đây sẽ là một tư liệu quý giá giúp thế hệ mai sau không chỉ nhìn ngắm quê hương bằng tình yêu cảm tính, mà còn hiểu và trân trọng những giá trị lao động bền bỉ đã và đang làm nên không gian sinh thái hồ đập Tổ quốc nói chung và Thanh Hóa nói riêng.

THY LAN (CTV)



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]