Khúc Phụ - làng mắm bên cửa biển
Vùng đất Khúc Phụ nằm ở nơi “đầu sóng ngọn gió” nhưng với sự chịu thương, chịu khó, những thế hệ người dân nơi đây đã vượt lên nghịch cảnh, xây dựng quê hương. Và nhắc đến Khúc Phụ, người gần xa còn nhớ đến một làng nghề làm mắm nổi tiếng xứ Thanh.

Di tích lịch sử văn hóa nghè Cáy - không gian thiêng, “điểm tựa” tâm linh của người dân Khúc Phụ xưa và nay.
Khúc Phụ trước đây thuộc xã Hoằng Phụ (nay thuộc xã Hoằng Thanh), nằm ở vị trí hợp lưu sông Mã, sông Cung và cửa Lạch Trào. Trong đó, phần sông Cung chạy dọc phía Tây và Tây Nam, đổ vào sông Mã ở cửa Hội Triều; đoạn sông Mã thuộc cửa Lạch Trào (còn gọi là Lạch Hới) ở phía Nam và vùng biển phía Đông.
Đất đai nơi đây được hình thành bởi quá trình bồi tụ hàng vạn năm của các luồng hải lưu và phù sa sông. Vì thế, Khúc Phụ mang đặc trưng của một dải đất cát ven biển.
Sông, biển không chỉ mang lại nguồn lợi lớn về thủy, hải sản mà còn cả lợi thế về giao thông đường thủy. Tuy vậy, nơi đây cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ thủy triều và nguồn thủy văn của các con sông. Ngoài ra, nằm ở vị trí “cửa sông, ven biển”, Khúc Phụ không tránh khỏi việc ngập úng vào mùa mưa lũ.
Theo các tài liệu lịch sử và khảo cổ học, trước thế kỷ thứ X, dải đất rộng dài ven biển (thuộc huyện Hoằng Hóa cũ) vẫn là nơi hoang vắng. Và so với các làng xã lân cận, Khúc Phụ có lịch sử hình thành muộn hơn. Khoảng hơn 1.000 năm về trước, nơi đây vẫn là biển. Do sự thay đổi dòng chảy cửa Lạch Trào chuyển từ Hà Lộ cũ (nay thuộc xã Hoằng Tiến) về phía Nam cùng với sự lùi dần của biển và phù sa sông Mã bồi đắp mà hình thành các cồn cát, gò đống hoang vu, rậm rạp. Khoảng hơn 500 năm về trước, vào thời kỳ Nam - Bắc triều, con người đã đến Khúc Phụ định cư, dựng nên làng mạc.

Nghề làm mắm ở Khúc Phụ có “tuổi đời” trên 300 năm.
Sách Lịch sử Đảng bộ xã Hoằng Phụ, viết: “... trong các tộc phả còn lại thì con cháu các bậc công thần nhà Lê như Khang Quận công Lê Đình Hoàn (Hải Dương), Trương Huy Mãi (Hải Dương) và dòng họ Nguyễn Như (Gia Viễn - Ninh Bình) là những người có mặt sớm trong việc khai phá ra Khúc Phụ... vào khoảng thế kỷ XVI”. Tên gọi làng (xã) Khúc Phụ được cho là xuất hiện vào thời nhà Nguyễn.
Dẫu sống ở nơi “đầu sóng ngọn gió” song với khát vọng sống mãnh liệt và tinh thần đoàn kết, những thế hệ người dân Khúc Phụ đã nương vào tự nhiên, “tựa” vào nhau và không ngừng chăm chỉ lao động, khai hoang, đắp đê lấn sông, lấn biển... Thời gian với những biến thiên, xoay vần của tạo hóa và cả những tác động của con người khiến cho vùng đất ven biển dần đổi thay.
Trong quan niệm của người Việt, “dĩ nông vi bản” (lấy nông nghiệp làm gốc), những người đầu tiên khi đến Khúc Phụ đã cải tạo đất nhiễm mặn, cát pha, chọn lựa cây trồng phù hợp, có sức chống chọi với hạn hán để đảm bảo nhu cầu lương thực thiết yếu. Trên đồng đất Khúc Phụ, khoai lang và các loại đậu, lạc, vừng... phù hợp, cho chất lượng thơm ngon.
Tuy vậy, cùng với việc nương vào tự nhiên để mưu sinh và phát triển, nghề khai thác, nuôi trồng thủy hải sản mới thực sự là thế mạnh của người dân Khúc Phụ.
Nghề khai thác hải sản ở Khúc Phụ được cho là có từ khoảng 400 năm về trước. Sống bên sông nước, buổi ban đầu khai thác thủy, hải sản chủ yếu mới chỉ là đào don, ngao, cua, cáy ở vùng cửa lạch. Về sau xuất hiện các loại bè, mảng, thuyền nhỏ thì việc đánh bắt trên sông, trên biển dần hình thành. Và khi có thuyền gỗ lớn thì việc ra khơi thuận lợi hơn. “Nghề lưới rút ra đời từ đấy, khai thác cá nục với năng suất cao ở khơi, thường gọi là đánh cá vụ Bắc. Ngoài nghề lưới rút còn có nghề khai thác cá vụ Nam ở gần bờ như nghề te, nghề gõ, giã kéo, rùng rẻo...” (sách Lịch sử Đảng bộ xã Hoằng Phụ).
Cũng bởi có truyền thống khai thác, đánh bắt lâu đời mà người dân Khúc Phụ đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm về thời tiết và nghề nghiệp, lưu truyền đến ngày nay, như: “Giêng, Hai ti hí gió nồm/ ...Tháng Ba anh xuống lưới quàng/ Cá xủ, các xác, cá nham, cá thiều/ Tháng tư anh mới đi kheo/ Êm rung lặng gió ruốc khêu vào liền...”.
Lại nói, từ nguồn hải sản phong phú đánh bắt được, trên đất Khúc Phụ, nghề làm mắm cũng sớm hình thành. “Nghề nấu nước mắm, làm mắm chượp ra đời từ cuối thế kỷ XVII do một thương gia quê Đức Thọ, Hà Tĩnh là Cao Đăng Điển truyền tới. Sau nhiều lần ra vào bán nước mắm ở đây, nhận thấy nguồn lợi cá nục nhiều và làm được nước mắm ngon, ông liền đưa cả gia đình tới Khúc Phụ để hành nghề muối cá và nấu nước mắm. Cá muối vào chum vại to, sau đóng thành thùng gỗ lớn để qua năm, gọi là mắm chượp, rồi đem nấu thành nước mắm. Nước mắm Khúc Phụ được chế biến bằng cá nục, nhiều đạm nên nổi tiếng qua nhiều đời” (sách Lịch sử Đảng bộ xã Hoằng Phụ). Đến ngày nay, nghề làm mắm ở Khúc Phụ không chỉ mang lại cuộc sống ấm no cho người dân mà còn trở thành một “thương hiệu” được định vị trong lòng người yêu ẩm thực Việt.
Cũng từ sự nổi tiếng của nguồn hải sản đánh bắt dồi dào và nghề làm mắm, việc giao thương ở Khúc Phụ trở nên sầm uất, sôi động một thuở. Đầu thế kỷ XX, bên sông Cung, chợ Bến trở thành trung tâm giao thương của cả vùng, thương lái khắp nơi tìm về mua cá, mắm và bán các loại sản vật vùng miền. Ngày nay, dù đã chuyển về vị trí khác, quy mô cũng không còn như xưa, song tên gọi chợ Bến vẫn được người dân sử dụng.
Không chỉ khai thác, với diện tích mặt nước tự nhiên, nghề nuôi trồng thủy sản ở Khúc Phụ từ nhiều năm về trước đã từng bước hình thành. Người dân nơi đây đã đắp đồng, khoanh vùng để nuôi tôm, cá. Việc đắp đồng được tổ chức thành phường, gọi là “phường đồng”. Nghề nuôi trồng thủy sản ở Khúc Phụ manh nha từ những cánh đồng, như đồng Giữa, đồng Đê, đồng Đuồi, đồng Xã...

Cánh đồng nuôi tôm trên đất Khúc Phụ xưa (nay thuộc xã Hoằng Thanh).
Cùng với nỗ lực mưu sinh, người dân Khúc Phụ còn chăm lo, vun đắp cho đời sống văn hóa, tín ngưỡng tinh thần. Một trong những “điểm tựa - địa chỉ” tâm linh của người dân vùng biển Khúc Phụ chính là nghè Cáy - di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Ông Lê Như Ý, thủ từ trông coi nghè Cáy, cho biết: “Theo các bậc tiền nhân kể lại, khi xưa nghè dựng bên vùng đất có bãi cáy lớn, người dân trong vùng thường tập trung về đây tìm bắt. Và vì thế mà có tên gọi nghè Cáy. Di tích là nơi phối thờ nhiều vị thánh trong tâm thức dân gian người dân vùng biển, như Sát hải đại vương; Tứ vị đại vương; Đức thánh Mẫu; và các vị Thành hoàng làng được người dân tôn kính. Hằng năm, vào ngày 15 tháng Giêng diễn ra lễ hội truyền thống nghè Cáy thu hút đông đảo người dân, du khách về dâng hương, cầu phúc”.
Từ mảnh đất hoang vu “cồn cao, bãi thổ, bãi triều lầy lội” ngày nào, với sức người cần lao và khát vọng vươn lên, “diện mạo” làng biển Khúc Phụ đang đổi thay, giàu mạnh, tươi đẹp từng ngày.
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Lịch sử Đảng bộ xã Hoằng Phụ, NXB Lao động, 2024).
Bài và ảnh: Trang Bùi
{name} - {time}
-
2026-06-19 17:45:00Một ngày sống chậm ở Hải Lĩnh
-
2026-06-17 07:05:00Ra mắt Làng Gốm Việt, điểm đến trải nghiệm mới ở Đà Nẵng
-
2026-06-13 09:55:00Hạnh Phúc Đoàn - làng xưa, phố nay






