Nguồn lực nội sinh - vươn mình cùng sự phát triển của dân tộc (Bài 3): Khai thác nguồn lực nội sinh - động lực phát triển bền vững
Thanh Hóa là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa. Những giá trị bất biến của hệ thống di sản được tạo nên qua các thời kỳ lịch sử đã trở thành tài nguyên vô giá, được coi là nguồn lực nội sinh vô tận trong quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh.

Đình Thi là không gian văn hóa quen thuộc của đồng bào dân tộc Thổ ở xã Như Xuân.
Từ nguồn lực nội sinh
Không phải ngẫu nhiên mà H. Le Breton viết: “Thanh Hóa níu giữ và quyến rũ như một vùng có nhiều kỷ niệm về quá khứ giàu truyền thuyết và vĩ đại. Thanh Hóa không phải chỉ là một đơn vị hành chính bình thường, đây là cả một xứ”. Thanh Hóa cũng được ví như hình ảnh của đất nước Việt Nam thu nhỏ, nơi chứng kiến và in dấu nhiều sự kiện lịch sử và văn hóa trọng đại của dân tộc.
Từ truyền thống lịch sử ngàn năm để lại cho đến những năm tháng anh hùng của thế kỷ XX qua những cuộc vệ quốc vĩ đại, mảnh đất xứ Thanh đều “dự phần” cùng sự tồn vong, hưng thịnh của quốc gia, dân tộc. Để rồi, những con người xứ Thanh đã viết nên nhiều trang sử hào hùng, được lưu danh với các tên tuổi như: Triệu Thị Trinh, Lê Hoàn, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Lê Lợi... và là nền móng dựng xây nên các vương triều: Tiền Lê, Hậu Lê, Hồ, Nguyễn.
Nằm ở vị trí thuộc Bắc Trung bộ, Thanh Hóa kết nối giữa đồng bằng Bắc bộ rộng lớn với khu vực miền Trung dài và hẹp. Thanh Hóa có 7 dân tộc anh em: Kinh, Mường, Thái, Dao, Mông, Thổ, Khơ Mú cùng chung sống đoàn kết bên nhau làm nên sắc màu đa dạng về văn hóa. Nhiều nhà nghiên cứu khi bàn về Thanh Hóa đã thống nhất rằng, Thanh Hóa là cái nôi di sản của Việt Nam. Đó là nơi ghi dấu những bước chân đầu tiên của loài người - di chỉ khảo cổ núi Đọ; là hang Con Mong - “thư viện” khảo cổ về sự tồn tại của xã hội loài người buổi sơ khai; là Hoa Lộc -một dấu mốc mới về sự phát triển đa dạng của xã hội loài người; và đặc biệt là văn hóa Đông Sơn rực rỡ - nền văn hóa mà những giá trị cốt lõi của nó đã cắm sâu gốc rễ vào truyền thống dân tộc và định hình nên nền văn hóa Việt Nam suốt hàng ngàn năm qua.
Càng đi sâu khám phá vùng đất và con người xứ Thanh càng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp và sức sống diệu kỳ của một Việt Nam thu nhỏ - nơi hội tụ hồn thiêng sông núi, nơi mạch ngầm truyền thống vẫn đang bền bỉ chảy không ngừng. Với 1.535 di tích được kiểm kê và công bố, trong đó có 856 di tích được xếp hạng, gồm: Di sản Văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ, 5 di tích quốc gia đặc biệt, 139 di tích cấp quốc gia, 711 di tích cấp tỉnh, Thanh Hóa là một trong những tỉnh có số lượng di tích được công nhận lớn nhất cả nước. Cùng với đó là 28 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và hàng trăm lễ hội, lễ tục, trò chơi trò diễn, nghề truyền thống, ẩm thực – vừa là bản sắc xứ Thanh, là nguồn tài nguyên chiến lược, vừa tạo sức hút khác biệt, vừa nâng tầm hình ảnh địa phương trong hội nhập.
Những vỉa tầng văn hóa phong phú, đa dạng, đặc sắc ấy vừa là niềm tự hào nhưng cũng là thách thức để Thanh Hóa không chỉ bảo tồn, mà còn trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội.
Động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Thanh Hóa trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam vốn có nhiều tên gọi khác nhau qua từng thời kỳ, song lại chưa một lần chia tách kể từ bộ Cửu Chân đến nay. Đây rõ ràng là lợi thế lớn để Thanh Hóa tự tin và khai thác giá trị riêng biệt của mình.
Di sản không chỉ có giá trị tinh thần mà còn trở thành của cải vật chất, gắn liền với sinh kế của cộng đồng dân cư. Việc ghi danh các di sản không chỉ làm cho cộng đồng nhận diện, tự hào về các giá trị di sản của mình, mà còn góp phần cải thiện, nâng cao đời sống Nhân dân. Nhận thức rõ ý nghĩa, nhiệm vụ quan trọng này, trong những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã có một chiến lược bài bản, dài hơi để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển. Cụ thể, ngày 30/5/2017, Kết luận số 82-KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XVIII) “Về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2017-2025” đã được ban hành. Ngày 4/7/2024, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TU về “Tiếp tục xây dựng, phát triển văn hóa và con người Thanh Hóa trong thời kỳ mới”. Và để nghị quyết đi vào thực tiễn, UBND tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 172/CTr-UBND ngày 8/8/2024 với 10 chỉ tiêu, 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp với 34 đề án, kế hoạch. Mục tiêu mà Nghị quyết 17 hướng tới là rõ ràng, đó là phấn đấu đến năm 2030 trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh và hiện đại; đến năm 2045 là tỉnh phát triển toàn diện và kiểu mẫu của cả nước.
TS Phạm Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Thanh Hóa, khẳng định: “Phát triển văn hóa và con người chính là nền tảng tinh thần cho mọi tiến bộ xã hội. Mỗi di tích, mỗi lễ hội, mỗi làn điệu dân ca nếu được khơi dậy đúng cách sẽ trở thành tài sản vô giá, gắn với du lịch, kinh tế, với niềm tự hào và trách nhiệm của người dân xứ Thanh”.
Theo thống kê, trong năm 2025, Thanh Hóa đón hơn 16,2 triệu lượt khách, tổng thu du lịch ước đạt 45.606 tỷ đồng. Để đạt được kết quả trên, ngoài sự kích cầu của ngành văn hoá, thể thao và du lịch, các địa phương, khu, điểm du lịch trong tỉnh đã phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch.
Pù Luông – một trong những điểm du lịch hấp dẫn để du khách lựa chọn khi đến với Thanh Hóa. Thiên nhiên ưu ái cho nơi này một cảnh quan vô cùng tươi đẹp, núi non hùng vĩ, khí hậu mát lành. Song, để phát triển du lịch thì không chỉ có lợi thế về “thiên tạo” mà cần vai trò quan trọng của “nhân tạo”. Ngoài điều kiện về hạ tầng phát triển từ các chương trình, dự án của Trung ương và của tỉnh, thì sự nỗ lực của người dân trong việc giữ gìn tiếng chiêng, tiếng khèn, những điệu múa sạp, cách làm men lá và những sản phẩm thổ cẩm là yếu tố nền tảng. Hiện trên địa bàn đã có 67 cơ sở lưu trú, homestay với tổng công suất 2.800 khách lưu trú/ngày. Con số này còn tiếp tục tăng lên hàng năm.
Đến thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông, du khách sẽ hiểu được nỗ lực giữ nghề dệt thổ cẩm gần 280 năm của bà con đồng bào dân tộc Thái. Những người phụ nữ trong thôn lớn dần theo bước chân của bà của mẹ đi ra ruộng thu hoạch bông, hái lá dâu về nuôi tằm; hằng đêm nghe tiếng lách tách dệt vải và những câu chuyện đầy sức mê hoặc. Nếu bà Hà Thị Nhân (80 tuổi) chỉ biết dệt và phối màu hoa văn thổ cẩm để giữ gìn nghề dệt của cha ông thì cô con dâu Vi Thị Luyến vừa biết dệt, vừa biết tiếp thị sản phẩm. Chị Luyến không chỉ bán sản phẩm ở làng nghề, ở các chợ truyền thống, mà còn đã đưa thổ cẩm dệt tay của cơ sở mình lên facebook, tiktok để giới thiệu, quảng bá. Nhờ đó, sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa vùng cao này đã được nhiều khách hàng trong và ngoài nước lựa chọn, đặt mua.
Đó không chỉ là câu chuyện của riêng gia đình bà Hà Thị Nhân, mà ở thôn Lặn Ngoài hiện có khoảng 105 hộ gia đình trực tiếp làm nghề dệt thổ cẩm. Họ đã và đang viết tiếp câu chuyện văn hóa với mong muốn đưa hình ảnh người Thái Thanh Hóa đến mọi miền đất nước, để những sản phẩm của họ vượt ra ngoài bản làng. Nhờ du lịch, nhiều hộ dân đã thoát nghèo, thậm chí làm giàu. Thanh niên không còn rời bản đi làm xa; phụ nữ Thái, Mường trở thành hướng dẫn viên du lịch ngay trên quê hương mình. Việc kết hợp giữa phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa đã thực sự có ý nghĩa và là hướng đi đúng đắn cho chính quyền và người dân.
Văn hóa nói tầm vĩ mô là tự rất nhiều yếu tố cấu thành nên nhưng nếu tính ở tầm vi mô, đó chính là đời sống hằng ngày của bà con Nhân dân. Với bà con đồng bào dân tộc Thổ ở các xã Như Xuân, Hóa Quỳ việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống luôn được chú ý. Họ coi tiếng nói, trang phục và các lễ hội là “báu vật”, “nếu không gìn giữ thì sẽ rất nhanh, bọn trẻ sẽ Kinh hóa hết”, ông Lê Văn Cứu, người nghiên cứu về văn hóa Thổ, cho biết. Cũng bởi thế mà, lễ hội Đình Thi ngoài ý nghĩa tri ân công đức tướng Lê Phúc Thành, còn là nơi con cháu luôn hướng về. “Công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thổ đã được xã Như Xuân quan tâm tiếp tục triển khai. Cụ thể là sưu tầm, khôi phục các phong tục, tập quán, tín ngưỡng và lễ hội, phục dựng lễ hội dân gian của người Thổ; trùng tu di tích lịch sử; lưu giữ tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán sinh hoạt, văn hóa ẩm thực... Bên cạnh đó, chính sự trao truyền của những người cao tuổi, người có uy tín mà những điệu hát đốm, hát ru, hát chậm đò ho đã được thế hệ trẻ học tập và tiếp nối”, ông Nguyễn Thế Lợi, Trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội UBND xã Như Xuân cho biết.
Khai thác nguồn lực nội sinh để phát huy giá trị di sản văn hóa chính là cách làm bền vững nhất. Nếu khai thác không đúng, không trúng, chắc chắn giá trị văn hóa sẽ bị phai nhạt hoặc có thể mất đi trong thời gian rất ngắn khi xã hội phát triển hằng ngày.
Bài và ảnh: Kiều Huyền
{name} - {time}
-
2026-01-18 07:15:00Anh Tú “Voi Bản Đôn” gây bất ngờ khi sáng tác ca khúc về Đảng quang vinh
-
2026-01-17 10:11:00Nguồn lực nội sinh - vươn mình cùng sự phát triển của dân tộc (Bài 2): “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”
-
2026-01-17 08:02:00Nên hiểu câu “Giày thừa, dép thiếu” thế nào cho đúng?





![[E-Magazine] Về xứ Thanh ăn “Tết năm cùng” với người Dao Quần Chẹt](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2602/105d3161148t02461l1-download5.webp)
