(vhds.baothanhhoa.vn) - Trên mảnh đất xứ Thanh “địa linh nhân kiệt”, những bảo vật quốc gia không chỉ là chứng tích lịch sử mà còn là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng dân tộc qua các thời kỳ. Phát huy giá trị các bảo vật chính là cách để lịch sử tiếp tục lan tỏa và hiện diện trong đời sống hôm nay.

Phát huy giá trị “nguồn lực văn hóa đặc biệt”

Trên mảnh đất xứ Thanh “địa linh nhân kiệt”, những bảo vật quốc gia không chỉ là chứng tích lịch sử mà còn là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng dân tộc qua các thời kỳ. Phát huy giá trị các bảo vật chính là cách để lịch sử tiếp tục lan tỏa và hiện diện trong đời sống hôm nay.

Phát huy giá trị “nguồn lực văn hóa đặc biệt”

Du khách tham quan, tìm hiểu các bảo vật quốc gia tại Trung tâm Bảo tồn Di sản, Bảo tàng và Thư viện Thanh Hóa.

Thanh Hóa được nhắc đến như một “bảo tàng mở” của lịch sử và văn hóa dân tộc, nơi hội tụ dày đặc các di sản vật thể, phi vật thể có giá trị đặc biệt. Trong dòng chảy ấy, hệ thống bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh được xác định là “nguồn lực văn hóa đặc biệt”, phản ánh rõ nét vai trò của xứ Thanh trong tiến trình dựng nước và giữ nước. Từ các tấm bia đá tại Khu Di tích lịch sử Lam Kinh đến những hiện vật khảo cổ học tiêu biểu đang được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh, mỗi bảo vật là một “nhân chứng sống”, mang trong mình ký ức của thời đại và chiều sâu văn hóa lâu bền.

Tại Khu Di tích lịch sử Lam Kinh hiện lưu giữ 5 bảo vật quốc gia là những tấm văn bia độc bản, gồm: Vĩnh Lăng, Khôn Nguyên Chí Đức Chi Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng và Kính Lăng. Trong đó, bia Vĩnh Lăng (Lam Sơn Vĩnh Lăng bi) có giá trị tiêu biểu, được dựng năm 1433, ghi lại gia tộc, thân thế, sự nghiệp, công lao to lớn của vua Lê Thái Tổ, cùng những sự kiện quan trọng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hiện vật gồm 2 phần bia và rùa, được làm bằng đá trầm tích, màu xám xanh có lẫn đốm trắng, bóng. Mặt trước bia khắc chữ Hán, khoảng 750 chữ, tên bia viết theo lối chữ Triện, nội dung văn bia viết theo lối chữ Chân do Nguyễn Trãi soạn, người khắc chữ lên bia là Hàn Lâm Viện Đãi Chế thần Vũ Văn Phỉ. Không chỉ có giá trị sử liệu sâu sắc, bia Vĩnh Lăng còn là tác phẩm nghệ thuật đá đặc sắc, thể hiện trình độ tư duy, thẩm mỹ và kỹ thuật điêu khắc tinh xảo dưới thời Lê sơ.

Bà Bùi Ánh Tuyết, Phó Giám đốc Ban Quản lý Di sản Thành Nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh, chia sẻ: “Lam Kinh là không gian văn hóa - lịch sử quốc gia đặc biệt, nơi các bảo vật quốc gia gắn chặt với cảnh quan, lễ nghi và ký ức cộng đồng. Phát huy giá trị các bảo vật quốc gia vì thế không thể tách rời việc giáo dục truyền thống và các hoạt động văn hóa phù hợp, để di sản thực sự hiện diện trong đời sống đương đại. Đây cũng là hướng đi quan trọng để khu di tích tiếp tục đẩy mạnh công tác quảng bá, giới thiệu di sản và kết nối bảo vật với không gian văn hóa xứ Thanh một cách hài hòa, bền vững”.

Nếu hệ thống bia đá Lam Kinh phản ánh đỉnh cao của văn hóa - chính trị Đại Việt thời trung đại, thì các bảo vật quốc gia gồm: Kiếm ngắn núi Nưa, vạc đồng Cẩm Thủy và trống đồng Cẩm Giang đang trưng bày tại Bảo tàng tỉnh lại đưa người xem ngược dòng thời gian, trở về với những tầng văn hóa sớm hơn trong lịch sử vùng đất xứ Thanh. Kiếm ngắn núi Nưa gắn với không gian linh thiêng của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, là biểu tượng cho tinh thần quật khởi, ý chí độc lập và lòng yêu nước của cư dân bản địa từ buổi đầu chống ngoại xâm. Dù hình dáng nhỏ gọn, song hiện vật này có giá trị lớn trong việc nghiên cứu lịch sử quân sự và kỹ thuật luyện kim cách đây khoảng hơn 2.000 năm. Còn với bảo vật quốc gia Vạc đồng Cẩm Thủy lại cho thấy trình độ đúc đồng tinh xảo, là hiện vật có giá trị đặc biệt gắn liền với lịch sử dựng nước của dân tộc Việt Nam nói chung và Thanh Hóa nói riêng dưới thời kỳ Lê Trung hưng. Trong khi đó, trống đồng Cẩm Giang với hệ thống hoa văn phong phú, bố cục chặt chẽ, không chỉ là tác phẩm nghệ thuật đặc sắc mà còn là “bản sử bằng hình ảnh” và là biểu tượng rõ nét mang đặc trưng của nền văn hóa Đông Sơn.

Là “nguồn lực văn hóa đặc biệt” quan trọng, các bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị. Trong đó, việc ứng dụng công nghệ số đang từng bước được triển khai, góp phần đưa hiện vật đến gần hơn với công chúng. Tuy vậy, phần lớn bảo vật quốc gia chủ yếu được tiếp cận theo hướng “trưng bày- chiêm ngưỡng”, trong khi câu chuyện lịch sử, văn hóa phía sau hiện vật chưa thực sự được chuyển tải một cách sinh động, hấp dẫn. Sự kết nối giữa bảo vật với các hoạt động giáo dục, du lịch văn hóa và trải nghiệm vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.

Theo ông Trịnh Đình Dương, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản, Bảo tàng và Thư viện Thanh Hóa: “Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển du lịch văn hóa, việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn và phát huy giá trị bảo vật quốc gia đang mở ra nhiều triển vọng. Số hóa hiện vật, xây dựng hệ thống thuyết minh đa phương tiện, trải nghiệm thực tế ảo hay các sản phẩm truyền thông sáng tạo không chỉ giúp công chúng tiếp cận di sản theo cách mới, mà còn góp phần giảm áp lực trực tiếp lên hiện vật gốc, đặc biệt là các bảo vật quốc gia”.

Phát huy giá trị bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cho thấy không chỉ là câu chuyện của bảo tồn, mà còn là hành trình đưa lịch sử đến gần hơn với công chúng. Khi được gìn giữ đúng cách, được kể đúng câu chuyện và được đặt trong mối liên hệ sống động với cộng đồng, các bảo vật quốc gia sẽ trở thành “nguồn lực văn hóa đặc biệt”, bồi đắp bản sắc, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong tương lai.

Bài và ảnh: Hoài Anh



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]