Sự bùng nổ của phim ngắn, phim AI đang làm thay đổi cách khán giả tiếp nhận nội dung và tạo thêm áp lực cho điện ảnh. Khi người xem quen với nhịp kể nhanh, cao trào liên tục, điện ảnh Việt đứng trước bài toán vừa thích ứng, vừa giữ lại chiều sâu, khoảng lặng và bản sắc sáng tạo.

Phim AI tràn ngập mạng xã hội, điện ảnh Việt sẽ giữ khán giả ra sao?

Sự bùng nổ của phim ngắn, phim AI đang làm thay đổi cách khán giả tiếp nhận nội dung và tạo thêm áp lực cho điện ảnh. Khi người xem quen với nhịp kể nhanh, cao trào liên tục, điện ảnh Việt đứng trước bài toán vừa thích ứng, vừa giữ lại chiều sâu, khoảng lặng và bản sắc sáng tạo.

Phim AI tràn ngập mạng xã hội, điện ảnh Việt sẽ giữ khán giả ra sao?

Người xem ngày càng có nhiều lựa chọn và chỉ cần một cú vuốt để bỏ qua nội dung không đủ hấp dẫn. Ảnh minh họa: AI.

Khi người xem có thể tiếp xúc với hàng trăm nội dung mỗi ngày và chỉ cần một cú vuốt để rời khỏi thứ không còn hấp dẫn, phim điện ảnh cũng đứng trước sức ép phải vào chuyện nhanh hơn, tạo cao trào sớm hơn. Nhưng nếu điện ảnh cũng chạy theo logic “vài phút một cú hook”, điều gì sẽ còn lại của những khoảng lặng, chiều sâu nhân vật và ngôn ngữ riêng của màn ảnh rộng?Một bộ phim điện ảnh hôm nay không còn chỉ cạnh tranh với những bộ phim khác.

Ở trong rạp, chiếc điện thoại có thể được cất đi. Nhưng trước khi khán giả bước vào rạp, thời gian của họ đã phải chia sẻ với TikTok, YouTube, Facebook, các nền tảng trực tuyến, tin nhắn và vô số dạng giải trí được thiết kế để tiếp cận nhanh nhất có thể.

Trong bối cảnh đó, phim ngắn AI không chỉ đặt ra câu chuyện về một loại nội dung mới. Nó phóng đại một thay đổi đã diễn ra từ trước: quyền lực của sự chú ý.

Một video không hấp dẫn có thể bị bỏ qua chỉ sau vài giây. Một phim ngắn vài phút có thể phải tạo ra cao trào gần như ngay lập tức. Người xem ngày càng có nhiều lựa chọn và chỉ cần một cú vuốt để bỏ qua nội dung không đủ hấp dẫn.

Điện ảnh có buộc phải nhanh hơn để tồn tại?

Khi từng phút phim đều phải giữ chân khán giảNhà phê bình điện ảnh Ngọc Nick M cho rằng áp lực phải vào chuyện nhanh hơn hiện hữu rất rõ.

“Ngày nay, một bộ phim không chỉ cạnh tranh với phim khác mà còn cạnh tranh với mạng xã hội, tin nhắn và toàn bộ Internet khi thói quen người dùng thay đổi, quen tiêu thụ fast food hơn là các bữa ăn fine dining”, anh nói.

Sự thay đổi đó buộc người làm nghề phải suy nghĩ nghiêm túc hơn về nhịp kể. Một đoạn phim dài dòng không trở nên có giá trị chỉ vì nó chậm. Việc khán giả ít kiên nhẫn hơn với những phần thừa đôi khi cũng có tác dụng buộc biên kịch, đạo diễn tiết chế, đi vào câu chuyện chính xác hơn.

Phim AI tràn ngập mạng xã hội, điện ảnh Việt sẽ giữ khán giả ra sao?

Nhà phê bình điện ảnh Ngọc Nick M.

Ngọc Nick M thẳng thắn: “Điều này buộc biên kịch, đạo diễn phải ý thức hơn về nhịp kể, vào chuyện nhanh hơn và bớt dài dòng. Ở góc độ nào đó, đây cũng là điều tốt. Có những bộ phim nếu cắt đi 20 phút thì cả đạo diễn lẫn khán giả đều khỏe hơn” (cười).

Nhưng anh lập tức phân biệt hai khái niệm thường dễ bị đánh đồng: “Vấn đề là nhanh không đồng nghĩa với hay. Một bộ phim cần nhịp điệu chứ không nhất thiết cần tốc độ. Có phim rất nhanh nhưng cảm xúc phẳng và cũng có phim rất chậm nhưng từng phút đều có sức nặng. Thử thách của người làm phim hôm nay là hiểu khán giả đã thay đổi nhưng đừng vì thế mà đánh giá thấp khả năng kiên nhẫn và cảm nhận của họ”.

Khác biệt giữa nhịp điệu và tốc độ là điểm quan trọng khi nhìn vào ảnh hưởng của phim ngắn đối với điện ảnh. Tốc độ chỉ cho biết các sự kiện xảy ra nhanh đến mức nào. Nhịp điệu lại liên quan tới cách tác phẩm tổ chức cảm xúc: khi nào cần đưa thông tin, khi nào cần giữ lại, khi nào người xem phải được đẩy về phía trước và khi nào cần được đặt trong một khoảng lặng.

Nếu mọi phút phim đều phải chứng minh rằng “có chuyện xảy ra”, điện ảnh có nguy cơ đánh mất chính những thời điểm tưởng như không có sự kiện nào đáng kể. Ngọc Nick M gọi đó là những khoảng lặng “tuyệt đối điện ảnh”.

“Không phải phút nào trong một bộ phim cũng cần biến cố. Có những cảnh chỉ là một ánh mắt, một người ngồi bên cửa sổ hay hai nhân vật im lặng đi bên nhau. Nhưng chính những khoảnh khắc ấy tạo nên không khí và chiều sâu cảm xúc. Cứ xem Vương Gia Vệ hay Trần Anh Hùng là sẽ hiểu sức nặng của những khoảng lặng trong điện ảnh có thể đem tới cho người xem thứ ngôn ngữ điện ảnh đẹp đến thế nào”, anh phân tích.

Những khoảnh khắc đó rất khó đo bằng logic “giữ chân từng giây”. Một ánh mắt không đưa cốt truyện tiến thêm mười bước. Một nhân vật đứng bên cửa sổ không tạo ra cliffhanger. Hai người cùng im lặng thậm chí không cung cấp thêm thông tin theo nghĩa thông thường.

Nhưng chính điện ảnh từ lâu đã dùng những thứ như vậy để kể phần không thể nói thành lời.

Nếu ngôn ngữ ấy bị thay thế hoàn toàn bởi biến cố, cú lật và lời giải thích trực tiếp, bộ phim vẫn có thể giữ khán giả nhìn vào màn hình, nhưng chưa chắc giữ lại được điều gì trong họ sau khi phim kết thúc.

Điện ảnh sẽ mất gì nếu chạy theo tốc độ?

AI làm cho câu hỏi này trở nên cấp thiết hơn bởi khả năng tạo ra hình ảnh đẹp đang ngày càng dễ tiếp cận.Theo Ngọc Nick M, ưu điểm rất lớn của công nghệ là làm giảm chi phí của quá trình thử và sai. Một nhà làm phim trẻ có thể nhanh chóng thử concept hình ảnh, storyboard, bối cảnh hoặc phiên bản nháp thay vì phải bỏ nguồn lực đáng kể để dựng demo như trước. Điều đó đặc biệt có giá trị đối với những ê-kíp nhỏ, những người có ý tưởng nhưng chưa có ngân sách lớn.

“Tôi nghĩ ưu điểm lớn nhất của AI là giảm rất mạnh chi phí của việc thử làm và sai rồi làm lại cho tốt hơn. Một nhà làm phim trẻ giờ có thể thử concept hình ảnh, storyboard, bối cảnh hay một phiên bản nháp của bộ phim với nguồn lực nhỏ hơn rất nhiều chứ không phải đi thực tế làm demo như ngày xưa. Theo nghĩa đó, AI đang mở thêm cơ hội cho những ê-kíp nhỏ bước vào những cuộc chơi lớn hơn”, anh nói.

Nhưng chính ở đây xuất hiện một nghịch lý: khi một hình ảnh đẹp trở nên quá dễ tạo, “đẹp” không còn đủ để bảo chứng cho giá trị điện ảnh.

Phim AI tràn ngập mạng xã hội, điện ảnh Việt sẽ giữ khán giả ra sao?

Ảnh minh họa: AI

Ngọc Nick M nói: “Hạn chế lớn nhất lại nằm ở đời sống bên trong của hình ảnh. AI có thể tạo ra một khung hình đẹp nhưng một chuỗi hình ảnh đẹp chưa chắc đã trở thành điện ảnh. Điện ảnh cần ký ức, quan sát, trải nghiệm sống và một cái nhìn riêng về con người. Chưa kể các vấn đề về tính nhất quán, bản sắc thẩm mỹ và bản quyền vẫn còn rất lớn. Câu hỏi quan trọng không phải là AI có làm được phim hay không mà là người làm phim dùng AI để kể câu chuyện của mình hay để công cụ kể thay mình”.

Đó có lẽ cũng là thách thức trực tiếp với điện ảnh Việt khi AI bước ngày càng sâu vào quá trình sáng tạo.

Một công cụ có thể cho đạo diễn hàng chục phương án hình ảnh trong vài phút. Nhưng càng nhiều lựa chọn, vai trò của người sáng tạo càng không giảm đi. Ngược lại, họ càng phải biết tại sao mình chọn phương án này và bỏ phương án kia. Khi một cú máy đẹp có thể được tạo bằng câu lệnh, việc sở hữu một “gu” hình ảnh đơn thuần không còn đủ. Người làm phim cần hiểu cái đẹp đó phục vụ điều gì, nó thuộc về thế giới nào, nhân vật nào và tại sao khán giả cần nhìn thấy nó đúng ở khoảnh khắc ấy.

Ngọc Nick M cho rằng nếu điện ảnh liên tục chạy theo hook, twist và cao trào, nguy cơ lớn nhất là tác phẩm biến thành một chuỗi kích thích được tối ưu để ngăn người xem rời mắt.

“Người xem có thể không rời mắt nhưng chưa chắc sẽ nhớ hay đọng lại được điều gì. Điện ảnh không chỉ là nghệ thuật giữ sự chú ý. Nó còn là nghệ thuật khiến chúng ta chú ý sâu hơn và thế mới sinh ra những bộ phim có thể xem đi xem lại và trở thành tuyệt tác kinh điển”.

Điều đáng chú ý trong nhận định này là sự khác biệt giữa giữ sự chú ý và làm cho sự chú ý trở nên sâu hơn. Một cú twist có thể khiến khán giả tò mò trong vài phút. Một nhân vật được xây dựng đủ dày có thể ở lại trong tâm trí họ nhiều năm. Một cao trào có thể khiến người xem không rời màn hình. Một khoảng lặng đúng chỗ có thể khiến họ nhớ tới chính đời sống của mình.

Nếu AI và những dạng nội dung cực ngắn đang khiến việc tạo kích thích ngày càng dễ, điện ảnh càng cần chứng minh giá trị ở những phần mà kích thích tức thời không thể thay thế.

Đừng vội đổ lỗi cho sự thiếu kiên nhẫn của khán giả

Một cách lý giải dễ gặp trước sự phát triển của video ngắn là: “Khán giả bây giờ không còn đủ kiên nhẫn”. Nhưng đạo diễn Phạm Vĩnh Khương cho rằng cách nhìn đó quá đơn giản. Anh thừa nhận có lý do để lo lắng khi người xem thường xuyên tiếp xúc với những nội dung mà ngay từ đầu đã được lập trình để một điều mạnh phải xảy ra gần như tức thì.

“Nhất là thói quen vừa bắt đầu xem đã chờ một điều gì thật mạnh xảy ra ngay. Khi quen với nhịp ấy, những đoạn phim cần sự quan sát có thể bị cảm nhận là ‘chưa có gì’, dù nhân vật đang thay đổi rất nhiều trong im lặng”, đạo diễn nói.

Tuy nhiên, anh cho rằng sẽ là vội vàng nếu từ đó kết luận người xem nội dung ngắn rồi sẽ mất khả năng thưởng thức phim dài. Cùng một người có thể lướt một vài video trong giờ nghỉ trưa rồi buổi tối ngồi hàng giờ với một tác phẩm khiến họ thực sự quan tâm. Thời điểm xem, trạng thái cảm xúc và đặc biệt là sức hấp dẫn của chính tác phẩm đều có vai trò.

“Tôi không muốn nhìn khán giả như những người hoàn toàn bị động trước nội dung”, Phạm Vĩnh Khương nói.

Đặt toàn bộ trách nhiệm lên khán giả cũng rất dễ biến thành một cách để người làm phim tránh đối diện với câu hỏi của chính mình. Một cảnh phim kéo dài chưa chắc đã sâu sắc. Một bộ phim chậm không mặc nhiên có giá trị nghệ thuật. Một khoảng lặng chỉ đáng giá khi bên trong nó thực sự có điều đang diễn ra.

Phạm Vĩnh Khương cho rằng: “Với người làm phim, câu hỏi khó hơn là mình đã làm gì để thời gian khán giả dành cho tác phẩm trở nên có ý nghĩa. Một cảnh kéo dài cần có đời sống bên trong nó. Một khoảng lặng phải khiến người xem cảm thấy có điều đang được giữ lại, đang hình thành hoặc sắp mất đi. Nếu cảnh phim chỉ kéo dài vì người đạo diễn thích cảm giác chậm, khán giả sốt ruột cũng là điều dễ hiểu”.

Đây có lẽ là điểm cân bằng quan trọng nhất trong cuộc tranh luận giữa phim ngắn và phim điện ảnh. Điện ảnh không cần chạy theo TikTok bằng cách cứ vài phút lại tạo một cú sốc. Nhưng điện ảnh cũng không thể yêu cầu khán giả kiên nhẫn vô điều kiện chỉ bởi tác giả tuyên bố mình đang làm nghệ thuật.

Khoảng lặng phải có sức nặng. Nhịp chậm phải có lý do. Thời gian khán giả dành cho nhân vật phải giúp họ đi tới một nơi mà một video vài phút không thể đưa tới.

Phạm Vĩnh Khương đặc biệt trân trọng quá trình một nhân vật dần thay đổi trong mắt người xem: “Có những nhân vật ban đầu mình không thích, thậm chí phán xét họ, nhưng ở cùng họ đủ lâu thì mình bắt đầu hiểu. Quá trình đó rất đáng quý. Nếu câu chuyện vừa đưa ra một con người đã vội yêu cầu khán giả yêu, ghét hoặc kết tội, chúng ta sẽ bỏ lỡ nhiều điều phức tạp ở họ”.

Trong chính khả năng ở lại đủ lâu với một con người ấy, điện ảnh có thể tìm thấy lợi thế của mình trước dòng nội dung được tối ưu cho tốc độ. Điện ảnh không nhất thiết phải chiến thắng phim ngắn. Phim dài cũng không cần chứng minh mình “cao cấp” hơn một video vài phút. Mỗi loại hình có một không gian tồn tại và nhu cầu riêng.

Thách thức thực sự với điện ảnh Việt là liệu người làm nghề có đủ tự tin để hiểu khán giả đã thay đổi mà không chạy theo mọi thay đổi ấy; biết tận dụng AI mà không giao toàn bộ lựa chọn sáng tạo cho công cụ; biết cắt đi phần thừa nhưng vẫn giữ lại những khoảng lặng cần thiết; biết tạo sức hút mà không biến nhân vật thành phương tiện phục vụ cú twist tiếp theo.

Khi công nghệ làm cho một hình ảnh đẹp trở nên rẻ hơn, ký ức, trải nghiệm, khả năng quan sát và một góc nhìn riêng về con người có thể chính là những thứ trở nên đắt giá hơn. Và khi sự chú ý của khán giả trở thành tài nguyên mà hàng nghìn nội dung cùng tranh giành, người làm điện ảnh không thể chỉ yêu cầu họ kiên nhẫn.

“Tôi vẫn tin khán giả có thể kiên nhẫn khi họ cảm thấy bộ phim xứng đáng. Người làm nghề phải tạo được niềm tin ấy bằng từng cảnh, từng chi tiết. Yêu cầu khán giả dành thời gian cho mình cũng có nghĩa là mình phải biết quý thời gian của họ”, Phạm Vĩnh Khương nói.

Có lẽ đó cũng là câu trả lời rõ nhất trước nỗi lo điện ảnh sẽ bị thay thế bởi phim ngắn hay AI. Một bộ phim không khác biệt chỉ vì nó dài hơn, đắt tiền hơn hay được làm bởi nhiều con người hơn. Giá trị của nó nằm ở việc hai tiếng mà khán giả trao cho tác phẩm có đưa họ đến một cảm xúc, một suy nghĩ hay một cách nhìn về con người mà hàng trăm cú vuốt trên màn hình không thể đem lại hay không.

Theo VOV



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]