Trên đất Hoa Trai xưa
Hoa Trai thuộc huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia xưa. Nơi đây vừa có đồng bằng, có những dãy núi, lại có sông nhỏ chảy qua. Và Hoa Trai còn được biết đến là quê hương của vị danh thần giúp cho cơ nghiệp chúa Nguyễn ở Đàng Trong từng bước vững vàng.

Di tích quốc gia đền thờ Đào Duy Từ trên địa bàn tổ dân phố Nguyên Bình, phường Đào Duy Từ.
Vùng đất bán sơn địa
Trước khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, Hoa Trai xưa thuộc phường Nguyên Bình, thị xã Nghi Sơn, nay thuộc phường Đào Duy Từ. Theo các tài liệu địa chí, Hoa Trai là vùng đất rộng lớn với đồng bằng và đồi núi xen kẽ. Trên đất Hoa Trai, những dãy núi lớn nhỏ được người dân đặt tên, như núi Lâm Động, núi Nguyền, núi Năng... Những dãy núi gắn liền - chứa đựng những huyền thoại, “ký ức” về vùng đất, con người.
Theo lời kể của người dân địa phương, trên đỉnh núi Nguyền (hay núi Thề, Thệ Nguyện, Nguyện Sơn) có một giếng nhỏ, người xưa gọi là giếng tiên. Ở trên đó còn có những “thảm đá” thiên tạo tựa bàn cờ, tương truyền là nơi gặp gỡ của các vị thần dừng chân chơi cờ. Trên núi Nguyền còn có “bàn chân” khổng lồ gắn với lời thề của thủy thần bể (biển) Bạng với Sơn thần, rằng nước biển không được dâng tràn qua dấu bàn chân, để dân làng được yên ổn làm ăn, gây dựng cuộc sống. Trong tâm thức dân gian, người dân tin rằng, sự “giao kèo” giữa các vị thần đã giúp cho vùng đất này không bị những trận lụt lớn.
Với dáng thoai thoải, núi Nang (núi Năng, núi Long Cương) có hình thế tựa con tằm ăn no, sung mãn nhìn ra cửa biển. Tương truyền, núi Nang khi xưa là nơi Đào Duy Từ ẩn mình dựng nhà đọc sách, viết “Ngọa Long cương vãn” thể hiện những quan sát về thời cuộc. Ông “mượn” bối cảnh xã hội thời Tam quốc ở phương Bắc để ngầm nhìn nhận, đánh giá về hoàn cảnh xã hội nước ta thời bấy giờ: vua Lê chỉ mang tính chính danh, còn thực quyền thuộc về họ Trịnh. Ở phía Nam, họ Nguyễn mưu nghiệp lớn, còn phía Bắc họ Mạc lui về giữ Cao Bằng. Cũng bởi núi Nang là nơi Đào Duy Từ viết “Ngọa Long cương vãn” nên về sau này, người đời còn gọi núi Nang là núi Long Cương đề nhắc nhớ chuyện xưa.
Dưới chân núi Nang có sông Cầu Hung (một nhánh sông nhỏ đổ ra sông Lạch Bạng) chảy qua. Sông Cầu Hung được hình thành bởi những dòng suối chảy ra từ dãy núi Lâm Động, bởi vậy vào mùa mưa lũ, lượng nước đổ ra sông khá lớn song lại dễ cạn dòng khi mùa khô đến. Sách Địa chí huyện Tĩnh Gia viết: “Là vùng bán sơn địa có nhiều khe suối chảy qua, lượng nước sinh thủy lũ lụt trong mùa mưa bão xảy ra thường xuyên phá hoại đê đập, đường giao thông, thiệt hại nhà cửa diễn ra thường xuyên nên việc huy động sức người và sức của để chinh phục thiên nhiên là rất lớn...”.
Nằm trong không gian của vùng đất phía Nam của Châu Ái (Thanh Hóa xưa), đất và người Hoa Trai không chỉ nỗ lực vượt lên nghịch cảnh, đi qua gian khó, thách thức của thiên nhiên để mưu sinh mà còn góp phần kiến tạo nên không gian văn hóa làng quê. Trong đó, hát chèo là nét văn hóa lâu đời, đến nay còn được giữ lửa. Hát chèo được tổ chức thường xuyên trong các chương trình, sự kiện văn hóa lớn, nhỏ của địa phương, đặc biệt là trong kỷ niệm ngày mất của Hoằng Quốc công Đào Duy Từ. Ngày nay, hát chèo còn được chú trọng truyền dạy đến thế hệ trẻ.
Quê hương của vị danh thần giúp sức chúa Nguyễn
Chúa Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Quảng gây dựng cơ nghiệp, phát triển vùng đất mới Đàng Trong, đặt nền móng cho một mô hình kinh tế, chính trị từng bước “thoát ly” Đàng Ngoài. Đến chúa Nguyễn Phúc Nguyên, cơ nghiệp họ Nguyễn được mở rộng. Sách Việt Nam sử lược viết: “Bấy giờ ở xứ Nam lại có những người tôi giỏi giúp như các công Nguyễn Hữu Dật, ông Đào Duy Từ và ông Nguyễn Hữu Tiến đều là người tài trí cả”. Trong đó, Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Tiến là người xã Vân Trai (xã Vân Trai rộng lớn, bao gồm cả làng Hoa Trai) huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia.

Truyền dạy nghệ thuật truyền thống cho thế hệ trẻ trên địa bàn phường Đào Duy Từ.
Theo sử liệu, từ nhỏ Đào Duy Từ đã thể hiện sự dĩnh ngộ, thông tuệ. Tuy nhiên, khi ông đi thi, bởi là con nhà hát xướng, theo quy định của “Quốc triều hình luật” (Bộ luật Hồng Đức), con nhà hát xướng không được dự thi. Không chấp nhận số phận, ông miệt mài đọc sách nuôi chí lớn. Nghe nói Đàng Trong chúa Nguyễn nổi tiếng đức độ, nhân từ, trọng dụng kẻ sĩ có thực tài, thương quý người dân... Đào Duy Từ đã vào phía Nam tìm đường tiến thân, lập nghiệp.
Vào Đàng Trong, ông từng có thời gian ẩn nhẫn, làm thuê, tìm cơ hội diện kiến chúa Nguyễn. Từ sự tiến cử của Khám lý Trần Đức Hòa, “tôi hiền đã gặp được chúa sáng”.
Với tài mưu lược, khi nhà Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài định “mượn cớ” ban sắc để vào Nam đánh quân Nguyễn, Đào Duy Từ đã nghĩ ra kế giúp chúa Nguyễn “hoãn binh” tạm thời, cứ “nhận sắc” để có thời gian củng cố lực lượng, sau đó cũng chính ông nghĩ ra kế “Dư bất thụ sắc” (được hiểu nôm na là không nhận sắc, trả lại sắc). Ông hiến kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục để ngăn bước quân Lê - Trịnh, giữ lãnh thổ, dựng đại nghiệp.
Để giúp chúa Nguyễn giữ vững đất phía Nam trước sự tấn công của quân Lê - Trịnh, Đào Duy Từ đã khuyên chúa đánh chiếm Nam Bố Chính, phía Bắc của Bố Chính do tướng của chúa Trịnh trấn giữ nên việc đánh Nam Bố Chính thuận lợi hơn, chiếm được Nam Bố Chính - giữ được sông Gianh làm biên giới phòng thủ. Khi lấy được Nam Bố Chính rồi, ông tiếp tục hiến kế đắp lũy Động Hải (lũy Trấn Ninh) để bảo vệ bền vững Đàng Trong.
Cùng với các kế sách về quân sự nhằm đối phó với quân Lê - Trịnh, Đào Duy Từ còn dâng lên chúa Nguyễn các kế sách để phát triển kinh tế, mở mang đất đai. Cũng chính ông đã tiến cử lên chúa Sãi “Hổ tướng” Nguyễn Hữu Tiến là người cùng quê.
“Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, ông là một danh thần, được coi là người thầy của Chúa và sau được suy tôn là Đệ nhất khai quốc công thần của nhà Nguyễn. Vai trò và công lớn của ông được khắc ghi qua tên Lũy Thầy, là do chúa Nguyễn và Nhân dân xưng tụng để tỏ lòng tôn kính và ngưỡng vọng đối với Đào Duy Từ, người thầy của chúa- tổng công trình sư xây dựng các lũy ở Quảng Bình” (sách Danh nhân văn hóa Đào Duy Từ).
Đào Duy Từ được ví như “Gia Cát Lượng” là một tài năng quân sự, chính trị gia cũng là nhà chiến lược giúp chúa Nguyễn hoạch địch chiến thuật, đối phó với triều đình Lê - Trịnh, góp phần tạo thế đứng vững chắc cho Đàng Trong. Quốc sử quán triều Nguyễn trong sách Đại Nam thực lục tiền biên, đã đánh giá về ông: “Phàm đã mưu tính, trù hoạch việc gì thì hễ làm là trúng thời cơ”.
Ông Lê Văn Bình, bậc cao niên tại địa phương, thủ từ Di tích quốc gia đền thờ Đào Duy Từ suốt 40 năm qua, chia sẻ: “Hoa Trai xưa là vùng đất có cảnh quan tươi đẹp, con người nghị lực. Từ đất Hoa Trai, tiền nhân Đào Duy Từ đã giúp chúa Nguyễn làm nên nghiệp lớn, góp phần vẻ vang cho đất và người Hoa Trai”.
Bài và ảnh: Trang Bùi
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Địa chí huyện Tĩnh Gia, NXB Từ điển Bách Khoa, 2010; Danh nhân văn hóa Đào Duy Từ (1572-1634) NXB Thanh Hóa, 2024).
{name} - {time}
-
2026-10-02 08:00:00[Thanh Hóa xưa và nay] Trầm tích văn hóa nơi miền Tây xứ Thanh
-
2026-10-01 09:47:00[Thanh Hóa xưa và nay] Dấu xưa trên đất Hạc Thành
-
2026-09-29 13:48:00[Thanh Hóa xưa và nay] Dấu xưa trong phiên chợ vùng cao
![[Thanh Hóa xưa và nay] Trầm tích văn hóa nơi miền Tây xứ Thanh](http://c.dhcn.vn/media/img/256/news/2639/290d4160238t1800l1-290d4160227t1807.webp)
![[Thanh Hóa xưa và nay] Dấu xưa trên đất Hạc Thành](http://c.dhcn.vn/media/img/256/news/2639/280d4083317t1800l1-280d4083257t1806.webp)
![[Thanh Hóa xưa và nay] Dấu xưa trong phiên chợ vùng cao](http://c.dhcn.vn/media/img/256/news/2639/279d2132742t1800l1-279d2132739t1803.webp)


![[Thanh Hóa xưa và nay] Dấu xưa trên đất Hạc Thành](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2639/280d4083317t1800l1-280d4083257t1806.webp)
