Trương Xá: Truyền thống hiếu học và tinh thần yêu nước
“Hậu Lộc Trương Xá, Hoằng Hóa Bút Sơn” - câu thành ngữ dân gian dùng để ca ngợi vùng đất trù phú, sầm uất với tinh thần hiếu học, có truyền thống khoa bảng. Theo dòng thời gian, dù có nhiều thay đổi nhưng người dân thôn Trương Xá, xã Hoa Lộc vẫn luôn tự hào được sinh ra, lớn lên ở mảnh đất này.

Khu mộ của nghĩa sĩ Cần Vương Phạm Bành (1830-1887).
“Với người dân trong làng, cái tên Trương Xá có tự bao giờ, không ai biết. Nhưng sau đợt sáp nhập vừa qua, từ 3 thôn Tam Hòa 1, Tam Hòa 2 và Hòa Phú trở thành thôn Trương Xá. Chúng tôi mừng lắm!”, ông Phạm Thế Biên, người dân trong thôn chia sẻ.
Đến thôn Trương Xá, không khó khi nhận ra vẻ đẹp thiên nhiên nơi đây. Trong bức tranh phong cảnh của làng, nổi bật nhất là hình ảnh sông Lạch Trường uốn mình bao quanh, cùng những cánh đồng, ô muối, ao đầm và xóm làng. Phía xa xa là núi Linh Trường xanh thẳm, sừng sững bên biển. Một bên là núi, một bên là sông, phía trước mở ra biển lớn - tạo nên một không gian vừa khoáng đạt, vừa đậm chất quê hương.
Có lẽ cũng vì thế mà theo lời kể của nhiều bậc cao niên, nơi đây sớm có các dòng họ đến khai hoang, lập ấp. Ngoài dòng họ Phạm, còn có họ Lê, họ Đỗ... Khi đường bộ còn chưa phát triển, bến cảng Trương Xá là đầu mối giao thương nhộn nhịp của vùng cửa biển. Những con thuyền ngược xuôi trên sông đã mang theo các sản vật của quê hương đi khắp nơi.
Điều làm người dân Trương Xá tự hào nhất là truyền thống hiếu học, anh dũng kiên trung. Dòng họ Phạm không chỉ vang danh ở Trương Xá mà còn khắp vùng, khắp tổng... Tương truyền, vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, khi quân Tây Sơn thần tốc tiến ra Bắc đại phá quân Thanh, quan tri phủ Hoằng Hóa - Hậu Lộc là Phạm Phan đã huy động Nhân dân ngày đêm góp sức chặt gỗ, vận chuyển và bắc cầu để đại quân vượt qua sông, tiếp tục hành quân. Sau chiến thắng vang dội, để ghi nhận tấm lòng và công lao của Nhân dân địa phương, làng Trương Xá được ban thưởng gỗ quý để dựng đình. Câu chuyện này chủ yếu được lưu truyền trong dân gian và vẫn cần thêm tư liệu lịch sử để kiểm chứng. Song, sự tin yêu mà người dân dành cho quan tri phủ Phạm Phan là điều dễ nhận thấy.
Cháu nội cụ Phạm Phan là Phạm Phổ. Ông đỗ cử nhân năm 1822 dưới triều vua Minh Mạng, từng giữ chức Bố chánh Tuyên Quang nơi địa đầu Tổ quốc. Công đức lớn nhất của ông không chỉ là việc giữ yên dân nơi biên ải, mà còn tạo nền móng để có nếp nhà vững chãi. Ông chính là thân sinh của 2 bậc kỳ tài: Phạm Thanh và Phạm Bành.
Kế thừa chí lớn của cha, Phạm Thanh làm rạng danh quê hương khi xuất sắc đỗ Bảng nhãn, khoa thi Tân Hợi (1851) - vị trí cao nhất thời bấy giờ vì triều đình không lấy Trạng nguyên, khiến người đời suy tôn ông là “Quốc triều Á trạng”.
Từng giữ chức Tham tri Bộ Hộ, Phạm Thanh nổi tiếng là vị quan thanh liêm, chính trực và tài năng. Ông còn là thi sĩ, tác giả cuốn “Phạm Nghị Trai thi tập”. Sống giữa chốn triều đình, được nhiều người yêu mến, nhưng Phạm Thanh ít khi vui, văn thơ của ông thường chất chứa những điều u uẩn. Trong di cảo, ông viết: Người vốn yên mà muốn no ấm không phải dễ, há chịu mãi cảnh tối tăm sao? Quay đầu về mé trời tây thì mây hoang mờ mịt, gió buốt thảm thê; con tim khối óc; máu và nước mắt khắc họa rõ. Thanh không vì nhỏ bé, mờ nhạt, không vì thua người, mong có trời chứng giám... (theo Địa chí Hậu Lộc, NXB Khoa học xã hội, 2018).
Người em trai của Phạm Thanh là Phạm Bành. Ông đỗ cử nhân năm 1862, từng giữ chức Án sát Nghệ An, nhưng khi thực dân Pháp đến xâm lược, ông đã hưởng ứng chiếu Cần Vương, trở thành một trong những thủ lĩnh chủ chốt của khởi nghĩa Ba Đình. Đứng trước vận mệnh của đất nước, ông chọn đứng về phía Nhân dân, dâng hiến cả sinh mạng và gia tộc cho cuộc chiến giữ nước.
Sau khi Ba Đình thất thủ, ông đưa nghĩa quân rút về căn cứ dự phòng ở Mã Cao (khu vực huyện Yên Định cũ) ngay đêm 20/2/1887, rồi lánh về quê. Để cứu mẹ già và con là Phạm Tiêu bị quân Pháp bắt, ông đã ra đầu thú và uống thuốc độc tự tử ngay sau khi mẹ và con được thả nhằm tỏ rõ khí tiết của mình. Tinh thần bất khuất của thủ lĩnh Phạm Bành đã biến tên tuổi ông thành một tượng đài bi tráng, thắp sáng ngọn lửa yêu nước trong đêm đen thực dân.

Đình Trung, nơi ghi dấu sử làng/thôn Trương Xá.
Cũng bởi những con người tài danh ấy mà đến Trương Xá, di tích nào cũng mang đậm dấu ấn của họ. Về thăm đình Trung, chúng tôi được ông Phạm Thế Biên, một người dân trong làng giới thiệu: Đình được xây dựng vào năm Kỷ Mùi (1799), có tám mái uy nghi. Đây là một trong những công trình kiến trúc bề thế, nổi bật với hệ thống cột, kèo, vì, xà được chế tác từ những loại gỗ quý.
Ở đình Trung có 3 phiến đá cổ, lặng lẽ qua năm tháng, trở thành những “nhân chứng” đặc biệt. Từ những ngày xa xưa, khi đình làng còn là nơi hội họp, tế lễ và sinh hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng, những phiến đá đã được người dân sử dụng làm bệ đặt đồ thờ, bệ dâng lễ. Hằng năm vào ngày 25/11 âm lịch, lễ hội đình Trung diễn ra, con cháu tề tựu đông đủ, lắng nghe lịch sử của đình. Không chỉ là nơi tổ chức lễ hội, đình còn là nơi các vị hương, lý hội họp bàn chuyện đại sự của làng. Đến năm 1967, đình Trung bị tháo dỡ, lấy gỗ làm hầm trú ẩn trong thời kỳ máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc.
Đình tám mái năm xưa nay chỉ còn trong ký ức và lời kể của các bậc cao niên. Ngôi đình mới được dựng lại nhưng vẫn là mạch nguồn kết nối mọi người dân để giữ gìn tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước và đạo lý hướng về cội nguồn.
Mỗi công trình ở Trương Xá tựa như những trang viết trong cuốn sử làng. Ngoài đình Trung, còn có nghè Hạ với giếng Ngọc, văn bia ghi danh các anh hùng liệt sĩ và những người có công với nước, với làng; có chùa Cam Lộ; có khu lăng mộ Phạm Thanh và khu lăng mộ Phạm Bành...
Trương Xá không chỉ có một lịch sử đáng tự hào, mà thời nào cũng có những con người đáng kính để các thế hệ sau nhắc nhớ. Một trong những gương mặt tiêu biểu của thời hiện đại là Thầy thuốc Ưu tú Phạm Minh Chính, nguyên Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Thanh Hóa; nhà giáo - nhà văn Lê Xuân Đức (1939-2022), ĐBQH khóa VIII, sau đó đảm nhiệm trọng trách Vụ trưởng Vụ Văn hóa, Giáo dục của Văn phòng Quốc hội. Con trai ông là Lê Hoàng Anh, cũng là ĐBQH, đảm nhiệm cương vị Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội...
Từ những con người ấy, một mạch nguồn được hun đúc: lấy sự học làm gốc, lấy khí tiết làm nền, lấy lòng yêu nước và trách nhiệm với cộng đồng làm lẽ sống.
Lịch sử đã đổi thay nhưng với người dân Trương Xá vẫn luôn tự hào vì sinh ra và lớn lên ở một làng quê đẹp, hiếu học và giàu truyền thống yêu nước. Năm 2026, đánh dấu 140 năm Khởi nghĩa Ba Đình (1886-2026) - dấu son tiêu biểu của phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX. Cận kề dịp kỷ niệm khởi nghĩa Ba Đình, người dân lại kể cho nhau nghe chuyện dòng họ Phạm và thủ lĩnh yêu nước Phạm Bành. Họ ngân nga 4 câu thơ của bác sĩ Phạm Minh Chính: Trương Xá có đình có chùa/ Có nghè, có chợ, nhà thờ từ lâu/ Dù sinh sống ở nơi đâu/ Nhớ quê vẫn cứ rủ nhau tìm về.
Họ tìm về để nghe và kể lại cho cháu con về một câu chuyện lịch sử văn hóa của đất và người làng Trương Xá.
(Bài viết có sử dụng tư liệu sách Địa chí Hậu Lộc, NXB Khoa học xã hội, 2018; và một số tư liệu của địa phương)
Bài và ảnh: Kiều Huyền
{name} - {time}
-
2026-10-31 15:30:00Đồng Bớp, hẹn ngày về...
-
2026-10-31 07:14:00[Thanh Hóa - xưa và nay] Đại lộ Lê Văn Hưu - mở lối phát triển trên quê hương đất học
-
2026-10-29 15:28:00Tháo gỡ điểm nghẽn cho ngành du lịch

![[Thanh Hóa - xưa và nay] Đại lộ Lê Văn Hưu - mở lối phát triển trên quê hương đất học](http://c.dhcn.vn/media/img/256/news/2643/289d6154226t1800l1-289d6154223t1803.webp)


![[Thanh Hóa - xưa và nay] Đại lộ Lê Văn Hưu - mở lối phát triển trên quê hương đất học](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2643/289d6154226t1800l1-289d6154223t1803.webp)

