(vhds.baothanhhoa.vn) - Để có một xứ Thanh - đất học thì từ trong mỗi gia đình, làng quê, việc học luôn được coi trọng, trở thành niềm tự hào. Cho đến ngày nay, có những làng quê ở Thanh Hóa, chỉ nhắc đến tên thôi, người đời đã cảm mến bởi tinh thần hiếu học và sự đỗ đạt.

Xứ Thanh - Đất học (Bài 1): Những vùng đất học nổi danh

Để có một xứ Thanh - đất học thì từ trong mỗi gia đình, làng quê, việc học luôn được coi trọng, trở thành niềm tự hào. Cho đến ngày nay, có những làng quê ở Thanh Hóa, chỉ nhắc đến tên thôi, người đời đã cảm mến bởi tinh thần hiếu học và sự đỗ đạt.

Xứ Thanh - Đất học (Bài 1): Những vùng đất học nổi danh

Bảng Môn đình - biểu tượng của truyền thống hiếu học trên quê hương Hoằng Lộc.

Sử gia thời Nguyễn, Phan Huy Chú khi nói về đất và người xứ Thanh đã có nhìn nhận tinh tế: “Thanh Hóa mạch núi cao chót vót, sông lớn lượn quanh, biển ở phía Đông... núi sông rất đẹp, là một chỗ đất có cảnh đẹp ở nơi xung yếu... Vẻ non sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa hội tụ hợp lại, nảy ra nhiều văn nho” (Lịch triều hiến chương loại chí). Phải chăng vì sống trên vùng đất có “khí tinh hoa hội tụ” ấy, nên từ rất sớm, người xứ Thanh đã hiểu được tầm quan trọng của việc học. Học để làm người, để lập thân, đem sự tinh anh xây dựng quê hương, đất nước.

Trong lịch sử khoa cử dân tộc, chuyện một làng, xã có người đỗ đại khoa, đề danh bảng vàng vốn đã là niềm vinh hiển. Tuy nhiên, có những miền quê mà đời nối đời, liên tiếp qua những khoa thi có người “chiếm bảng đề danh” nức tiếng xa gần. Và người đời thường gọi những làng quê ấy là đất khoa bảng.

Hoằng Lộc - vùng đất nằm ở phía Đông Nam huyện Hoằng Hóa cũ. Nơi đây, thế đất bằng phẳng, bao quanh là đồng ruộng tốt tươi, cây cối mướt xanh. Trong góc nhìn người xưa, Hoằng Lộc có dáng hình tựa chiếc nghiên mực, còn con đường lớn “chạy” về làng tựa chiếc bút đang “chấm” vào nghiên. Phải chăng thế đất ấy là “mạch ngầm” cho tinh thần hiếu học của người Hoằng Lộc!

Tính từ vị Tiến sĩ khai khoa đầu tiên (năm 1481) là Nguyễn Nhân Lễ cho đến khoa thi Nho học cuối cùng triều Nguyễn (1919), Hoằng Lộc có lịch sử khoa cử 438 năm với 12 người đỗ đại khoa. Trong đó có 1 Bảng nhãn, 1 Thám hoa, 5 Hoàng giáp.

Ở Hoằng Lộc, việc học còn được xem như một “nghề”. Dù gia cảnh nghèo khó hay gia đình quyền quý, thì việc học là điều cốt lõi của bậc nam nhân. Học không chỉ là chuyện của cá nhân, đó là sự vun đắp của cả gia đình. Người Hoằng Lộc cho đến ngày nay còn lưu truyền câu ca: “Trai mỹ miều gắng công đèn sách/ Gái thanh tân chăm mạch cửi canh/ Trai thời chiếm bảng đề danh/ Gái thời dệt vải vừa lanh vừa tài”. Phía sau người nam nhân đỗ đạt là người phụ nữ tảo tần sớm hôm để chồng được thỏa ước vọng khoa cử.

Nằm bên sông Mã, có núi Ngọc “chầu về”, Nguyệt Viên cũng là một làng khoa bảng nổi danh xứ Thanh. Trong lịch sử khoa cử thời trước, làng Nguyệt Viên có 11 người đỗ đại khoa và họ Nguyễn ở làng Nguyệt Viên có nhiều người đỗ đạt hơn cả. Nếu Nguyễn Trật là vị Tiến sĩ khai khoa của làng Nguyệt Viên thì cụ Phó bảng Lê Viết Tạo là người cuối cùng khép lại lịch sử khoa cử thời xưa của làng Nguyệt Viên (ông thi đậu Phó Bảng khoa thi Kỷ Mùi năm 1919 triều vua Khải Định).

“Đông Sơn Tứ Bôn, Hoằng Hóa lưỡng Bột” là cách người xưa ngợi khen đất học Cổ Bôn. Cổ Bôn (Kẻ Bôn, Tứ Bôn) xưa, nay thuộc phường Đông Tiến với những làng nhỏ như Kim Bôi, Ngọc Tích, Phúc Triền, Quỳnh Bôi cũng là vùng đất khoa bảng nổi danh với 7 người đỗ đại khoa, tiêu biểu trong số đó có Thám hoa Thiều Sĩ Lâm. Bên cạnh đó còn có Bảng nhãn Nguyễn Văn Nghi, rồi Nguyễn Đăng, La Viện, Lê Khả Trù... Đó là những bậc tiền nhân với sự học tài hoa đã làm rạng danh quê hương và đặt nền móng cho truyền thống hiếu học của đất cổ Kẻ Bôn.

Cách Cổ Bôn không xa là Kẻ Rị - một vùng đất học với những nhà khoa bảng được sử sách ghi danh, dân gian nhắc nhớ, như Bảng nhãn Lê Văn Hưu; “Trạng nguyên” Đào Tiêu; “Trạng nguyên” Lê Quát (theo sử liệu, ông đỗ Thái học sinh thời nhà Trần, dân gian trong vùng thường gọi ông là Trạng nguyên).

Nếu kể tên những vùng đất khoa bảng ở xứ Thanh, sẽ là chưa đủ nếu không nhắc đến vùng đất Hoàng Giang (thuộc huyện Nông Cống cũ, nay thuộc xã Trung Chính) - một vùng đất “đồng chua, vùng lụt”, thường xuyên mất mùa. Tuy nhiên, vượt lên nghịch cảnh, những thế hệ người dân Hoàng Giang đã miệt mài đèn sách, dùi mài kinh sử để “chiếm bảng đề danh”. Theo ghi chép, trong lịch sử khoa cử thời xưa, Hoàng Giang có 11 người đỗ đại khoa. Nổi bật trong số đó là dòng họ Lê Sỹ “đời nối đời” đỗ Tiến sĩ (Lê Nghĩa Trạch, Lê Sỹ Triệt tức Lê Nhân Triệt, Lê Sỹ Cẩn).

Nhắc đến truyền thống hiếu học, người Hoàng Giang còn lưu câu đối đầy tự hào: “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa/ Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà”.

Xứ Thanh - Đất học (Bài 1): Những vùng đất học nổi danh

Làng Phú Khê xã Hoằng Phú là một trong những vùng đất hiếu học của xứ Thanh.

Nằm dưới chân núi Ngàn Nưa, làng Cổ Định (Kẻ Nưa xưa) đâu chỉ nổi tiếng với đỉnh núi Nưa linh thiêng, nơi có địa điểm diễn ra cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, vùng đất này còn được biết đến với truyền thống hiếu học, đỗ đạt. Câu ca “Văn chương Cổ Định, Cổ Đôi” (Cổ Đôi tức vùng đất Hoàng Giang, huyện Nông Cống cũ) như một sự khẳng định về sự hay chữ, coi trọng việc học của người dân Cổ Định. Ở đất Cổ Định, họ Doãn, họ Lê là những dòng họ vinh hiển, nhiều người đỗ đạt, tài năng được lưu danh sử sách.

Và những vùng đất hiếu học của xứ Thanh còn có Vĩnh Trị, Hội Triều, Phú Khê, Biện Thượng, Bồng Báo, Ngọc Am... những tên đất, tên làng gắn liền với truyền thống trọng sự học.

Vinh quang, hiển đạt là vậy nhưng con đường học hành để đề danh bảng vàng xưa nay chưa bao giờ là sự dễ dàng. Trong khuôn phép của lịch sử khoa cử thuở trước, sự học nhọc nhằn. “Việc thi cử để tuyển người tài giỏi ra giúp nước là việc quan trọng của bất cứ quốc gia dân tộc nào. Tuy nhiên dưới thời phong kiến Việt Nam, việc thi cử thật trần ai, vạn người thi không lấy trăm người đỗ, việc thi cử cực kỳ khó khăn... ” (sách Những nhà khoa bảng xứ Thanh). Để rồi không ít kẻ sĩ đã phải ngậm ngùi: “Việc khoa cử khen ai khéo đặt, lừa anh hùng đến đầu bạc chưa thôi/ Áng công danh là số phận không lường, trêu sĩ tử dẫu gan vàng cũng núng”.

Tuy nhiên, vượt qua tất cả mọi thử thách, kẻ sĩ đã khẳng định tài học uyên thâm, dốc sức phụng sự triều đình, xây dựng đất nước. Truyền thống hiếu học được chăm chút vun trồng, tạo nên niềm tự hào về một xứ Thanh - rạng danh đất học.

Theo sách Danh sĩ Thanh Hóa với việc học và khoa cử thời xưa: “Trải qua 188 kỳ thi Đại khoa dưới thời phong kiến, từ năm Thái Ninh Ất Mão (1075) triều Lý đến khoa thi Nho học cuối cùng năm Khải Định Kỷ Mùi (1919) triều Nguyễn, số Tiến sĩ cả nước là 2989 người thì Thanh Hóa chiếm tới 204, đứng vào hàng thứ 5 toàn quốc”.

Bài và ảnh: Khánh Lộc



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]