(vhds.baothanhhoa.vn) - Thời gian vẫn đều đều trôi, nhưng với những con người đã đi qua ranh giới của sự sống và cái chết, thậm chí đã làm lễ truy điệu trước khi lên đường, thì những năm thanh xuân của họ là những ký ức đáng nhớ nhất.

Đi lên từ khói lửa (Bài 1): Những giá trị không thể phủ mờ

Thời gian vẫn đều đều trôi, nhưng với những con người đã đi qua ranh giới của sự sống và cái chết, thậm chí đã làm lễ truy điệu trước khi lên đường, thì những năm thanh xuân của họ là những ký ức đáng nhớ nhất.

Đi lên từ khói lửa (Bài 1): Những giá trị không thể phủ mờ

Trong những năm từ 1965 đến 1972, bến phà Ghép là một trong những tâm điểm của bom đạn giặc Mỹ.

1. Những ngày cuối tháng Tư, đất trời như rực rỡ hơn, lòng người cũng hân hoan hơn. Từ vùng núi cao phía Bắc đến những dải đất duyên hải miền Trung, từ cao nguyên hùng vĩ đến đồng bằng Nam bộ trù phú – các địa điểm từng diễn ra cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từng đoàn người về thăm và ôn lại truyền thống lịch sử. Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước luôn là một dấu mốc thiêng liêng, niềm tự hào không gì sánh được trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Đại thắng mùa xuân năm 1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của lịch sử dân tộc. Quân và dân ta đã đánh thắng kẻ thù lớn mạnh, giành độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta. Chiến thắng lịch sử 30/4 là minh chứng sống động cho khát vọng cháy bỏng về một đất nước không còn chia lìa, một dân tộc được sống trong hòa bình và làm chủ vận mệnh của chính mình.

Để ngăn chặn tuyến chi viện của miền Bắc vào chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đã tiến hành mở rộng chiến tranh phá hoại, trong đó Thanh Hóa là trọng điểm đánh phá ác liệt. Những địa danh như Đò Lèn, Hàm Rồng, Phà Ghép... trở thành các “tọa độ lửa” khốc liệt nhất, nhưng cũng ghi dấu chiến công oanh liệt nhất của quân dân Thanh Hóa. Qua hai lần chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, quân dân tỉnh Thanh đã bắn rơi 376 máy bay, trong đó có 3 chiếc B52, bắt sống 36 giặc lái, bắn cháy, bắn chìm 57 tàu chiến. Riêng Hàm Rồng đã bắn hạ 116 máy bay địch, trong đó có 2 máy bay chiến lược B52, bắt sống 12 tên giặc lái, tiêu diệt hơn 100 tên khác... trở thành biểu tượng thiêng liêng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nghệ thuật quân sự tài tình và sức mạnh đoàn kết của chiến tranh Nhân dân Việt Nam.

Trong suốt những năm chiến tranh chống Mỹ, Đảng bộ và Nhân dân Thanh Hóa vừa trực tiếp chiến đấu chống trả các cuộc tấn công của đế quốc Mỹ vừa tích cực làm nhiệm vụ hậu phương lớn cho tiền tuyến. Nhiều phong trào thi đua yêu nước như: “3 sẵn sàng” của thanh niên, “3 đảm đang” của phụ nữ, góp “hòn đá chống Mỹ” để lấp hố bom, thi đua “giỏi tay cày, hay tay súng”, “5 tấn thắng Mỹ” ở nông thôn, "2 mũi tiến công chống Mỹ” ở các công, nông, lâm trường; phong trào bám biển, giữ làng, bắn rơi máy bay, bắn chìm tàu chiến địch các vùng biển... đã lan tỏa mạnh mẽ, tạo thêm khí thế sôi nổi trong xưởng máy, công trường, đồng ruộng, trường học.

Để tăng cường lực lượng quân đội trực tiếp chiến đấu ở mặt trận phía Nam, với phương châm “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” khắp nơi trong toàn tỉnh phong trào tình nguyện tòng quân nhập ngũ vào Nam chiến đấu diễn ra sôi nổi. Chỉ tính riêng 10 năm từ 1965-1975, Thanh Hóa đã tuyển gọi 195.853 thanh niên gia nhập quân đội, chiếm 10,15% dân số (trong đó có 7.039 là nữ).

Những đóng góp vô cùng to lớn về sức người, sức của, những chiến công oanh liệt, lẫy lừng của quân, dân tỉnh ta cũng như những mất mát, hy sinh trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được Đảng, Nhà nước, Chính phủ ghi nhận xứng đáng. Nhiều cá nhân, tập thể có thành tích tiêu biểu, xuất sắc đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý. Toàn tỉnh có 25 đơn vị được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân (AHLLVTND), 16 đơn vị và cá nhân được phong tặng Anh hùng Lao động, 71 cá nhân được phong tặng danh hiệu AHLLVTND, hàng nghìn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 56.559 liệt sĩ, 32.146 người là thương binh...

2. Sau 51 năm thống nhất đất nước, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta càng tự hào về những thành tích đạt được thì càng thêm biết ơn những kỳ tích mà ông cha ta đã để lại.

Vừa tròn 100 tuổi, ông Lê Đức Nùng, thôn Hồng Kỳ, xã Lam Sơn lúc nhớ lúc quên. Điều ám ảnh ông là những âm thanh bất chợt, như trước đây khi nghe tiếng súng, tiếng máy bay sượt qua là ông thấy hàng loạt cây gãy đổ hay một ai đó có thể bị lấy đi tính mạng. Ông nói: “Chiến tranh là khói thuốc súng. Tôi sống đến nay là điều không tưởng. Điều không tưởng đó có thể là may mắn, phần lớn đồng đội của tôi đã ngã xuống khi còn quá trẻ”.

"Sự khốc liệt của chiến tranh chính là mất mát, hy sinh. Nhưng khi đó, tất cả đều sống bằng một niềm tin rằng đất nước sẽ có hòa bình, tự do. Bom đạn ác liệt lắm, khó khăn, thiếu thốn đủ thứ, ranh giới giữa sự sống và cái chết quá mong manh. Vậy mà, không ai buông súng, bởi vì tất cả cùng chung một lý tưởng, một niềm tin, một tình yêu hướng về Tổ quốc", Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Toàn (sinh năm 1927), thôn Thành Phú, xã Đông Thành, chia sẻ.

Niềm tin ấy cũng chính là lý do mà các mẹ Việt Nam Anh hùng, trong đó có mẹ Nguyễn Thị Toàn đã tiễn 2 người con trai của mình là Trịnh Văn Tuần và Trịnh Văn Tự lên đường nhập ngũ. Rồi cả hai đều đã hy sinh khi vừa mười tám, đôi mươi.

Còn với những người ra đi vì nước như liệt sĩ Nguyễn Văn Nam, ở thôn Tiền Châu, xã Nông Cống, trong cuốn nhật ký để lại, anh không nhắc nhiều đến bom đạn, những hy sinh khốc liệt hay hoài bão của một người trai đi chiến trận, mà hơn hết là tình yêu lớn dành cho Tổ quốc. Anh ghi chép cẩn thận những câu nói của Bác Hồ để tự răn bản thân: “Dù chiến tranh 10, 20 năm hoặc lâu hơn nữa thì ta tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi chứ nhất định không chịu làm nô lệ”. Trang nhật ký còn có hình ảnh vẽ minh họa kèm những dòng chữ thể hiện sự quyết tâm chiến đấu: “Dũng mãnh xông lên san bằng đồn bốt địch”, “Bao năm nay tôi vẫn sống trên tuyến lửa”... và cả những vần thơ gửi về người thương nơi quê nhà: “Hương sen bay thơm ngát tới lòng anh/ chiến trường lửa đạn để dành gửi em...”?

Nhưng chiến tranh đâu phải trò đùa. Chiến tranh là sự mất mát của cả dân tộc. Tôi đã từng đến Bảo tàng Lịch sử Quân sự, đọc những trang nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Nam, phần nào hiểu được những dòng chữ nắn nót, những bức hình còn ngây ngô, nhưng chứa đựng cả tâm hồn và trái tim của một đời người- đời lính.

Không chỉ riêng một cá nhân cụ thể, cả một thế hệ người Việt Nam đã viết nên bản hòa ca về lòng dũng cảm và tình yêu đất nước để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bản hòa ca ấy sau 51 năm vẫn ngân vang những giai điệu hào hùng kể lại cho lớp lớp con cháu về một thời gian khó mà kiên cường, một thời kỳ cả nước cùng chung tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” để vượt qua mọi thử thách. Từ đó tạo nền tảng để hôm nay chúng ta tiến bước mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Kiều Huyền



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]