(vhds.baothanhhoa.vn) - Ở quê tôi, người ta vẫn bảo nhau câu cũ: “Tháng Giêng ăn nghiêng bồ lúa”. Câu nói nghe qua tưởng vui, mà thấm thía bao nỗi nhọc nhằn của một thời cơ cực.

Hương bánh chưng ngày sau Tết

Ở quê tôi, người ta vẫn bảo nhau câu cũ: “Tháng Giêng ăn nghiêng bồ lúa”. Câu nói nghe qua tưởng vui, mà thấm thía bao nỗi nhọc nhằn của một thời cơ cực.

Hương bánh chưng ngày sau Tết

Quê tôi, xã Quảng Chính - một vùng chiêm trũng của xứ Thanh - ngày ấy nghèo lắm. Đồng sâu nước mặn, mùa nắng thì nứt nẻ, mùa mưa thì trắng đồng. Làm nông mà nhiều nhà vẫn chạy ăn từng bữa, mới treo hái đã hết gạo. Cuộc sống lam lũ in hằn trên lưng áo bạc màu và cả trên những đôi bàn tay nứt nẻ của người nông dân.

Ấy vậy mà mỗi độ Tết đến, xuân về, quê nghèo lại như khoác lên mình tấm áo mới. Lũ trẻ chúng tôi háo hức niềm vui không sao kể xiết. Được xúng xính trong chiếc áo còn thơm mùi vải mới, được theo cha mẹ ra chợ tết, được cầm quả bóng bay đủ sắc màu trên tay... Chỉ bấy nhiêu thôi đã là cả một bầu trời lung linh, hạnh phúc.

Tết với trẻ con là tiếng cười, là kẹo lạc, là những đồng tiền mừng tuổi tuy ít mà ấm. Những người như chúng tôi nay đã ngoài năm mươi, sáu mươi, thậm chí cao hơn nữa, ký ức sâu đậm nhất về Tết không hẳn là mâm cao cỗ đầy, mà là mùi bánh chưng ngày sau Tết - một niềm khao khát đến thèm thuồng của thuở nghèo khó. Khi những ngày vui qua đi, khi khách khứa đã vãn, khi bếp lửa chỉ còn âm ỉ, tiếng gà gáy cũng ít râm ran thì chiếc bánh chưng còn lại trở thành của quý. Nó không chỉ là món ăn, mà là dấu hiệu hiếm hoi của sự dư dả, của ước mong một năm mới đủ đầy hơn năm cũ.

Hương bánh chưng ngày sau Tết

Tôi vẫn nhớ như in những ngày sau Tết, bà ngoại tôi cặm cụi bên bếp rơm. Bà lấy từ trong rương chiếc bánh chưng cuối cùng cắt thành từng miếng vuông vức, đặt lên chảo mỡ nóng. Tiếng xèo xèo vang lên, mùi thơm nức nghe mà nao lòng. Mùi nếp thơm quyện với mùi đỗ xanh, thịt mỡ lan khắp gian bếp nhỏ. Bà thường để dành cho tôi miếng rán vàng ruộm nhất. Tôi đón lấy bằng cả hai tay, vừa thổi vừa cắn, thấy lòng mình như tan ra trong vị dẻo bùi, béo ngậy. Miếng bánh chưng ngày ấy hiếm hoi đến mức tôi ăn chậm rãi, dè sẻn từng chút một. Với tôi, đó không chỉ là hương vị của nếp mới, mà dường như còn lẫn cả hương trầu cay nơi khóe miệng bà, lẫn tình thân máu mủ âm thầm mà sâu nặng. Mỗi lần bà xoa đầu tôi, bảo “ăn đi cho chóng lớn”, tôi chỉ biết cười mà không hiểu hết sự chắt chiu, nhường nhịn của bà dành cho đứa cháu nhỏ.

Giờ đây, ngoại tôi đã về nơi thiên cổ. Căn bếp xưa không còn khói rơm, mái tóc bạc không còn nghiêng bên chảo bánh. Nhưng mỗi độ Tết đến xuân về, nhìn chiếc bánh chưng còn lại sau mấy ngày đầu năm, lòng tôi lại bâng khuâng xao xuyến. Tôi như thấy mình của năm tháng cũ, thấy dáng bà lụi cụi giữa gian nhà nghèo, nghe tiếng mỡ reo vui trong ký ức.

Thắp một nén hương thơm trên bàn thờ, tôi gửi lòng mình theo làn khói mỏng. Không chỉ cầu mong cho bà nơi thế giới linh thiêng được bình yên giấc ngủ ngàn thu, mà còn gửi gắm ước nguyện cho quê hương tôi ngày càng giàu sang, no đủ. Những cánh đồng chiêm trũng năm nào nay đã khác xưa, đường làng rộng hơn, nhà cao hơn. Nhưng tôi mong rằng giữa nhịp sống đủ đầy hôm nay, chúng ta đừng quên mùi hương bánh chưng ngày sau Tết - mùi hương của tình thân, của sự sẻ chia, nhân ái, mùi của những tháng năm tuy nghèo khó đã dạy ta biết yêu thương và trân quý những điều bình dị nhất trong đời.

Lê Xuân Bính (CTV)


Lê Xuân Bính (CTV)

 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]