(vhds.baothanhhoa.vn) - Trong chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa số trước, chúng tôi có bài viết: Về cách giảng hai từ “phiền phức” và “phức tạp” trong “Tầm nguyên từ điển” của Lê Văn Hòe. Sau khi phân tích và chứng minh, chúng tôi đã đi đến kết luận: 1. Trong Hán ngữ, cả phiền phức 繁複, lẫn phức tạp 複雜, đều được từ điển ghi nhận thống nhất bằng chữ “phức” có tự hình là 複 (bộ y), chứ không phải chữ phức 輻 (bộ xa 車) nghĩa là nan hoa bánh xe; 2. Chữ tạp, trong từ “phức tạp” 複雜 có nghĩa là pha tạp, không thuần nhất, chứ không mang nghĩa chuyên biệt là “món rau trộn”.

Về hai chữ “giá họa” trong “Tầm nguyên tự điển” của Lê Văn Hòe

Trong chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa số trước, chúng tôi có bài viết: Về cách giảng hai từ “phiền phức” và “phức tạp” trong “Tầm nguyên từ điển” của Lê Văn Hòe. Sau khi phân tích và chứng minh, chúng tôi đã đi đến kết luận: 1. Trong Hán ngữ, cả phiền phức 繁複, lẫn phức tạp 複雜, đều được từ điển ghi nhận thống nhất bằng chữ “phức” có tự hình là 複 (bộ y), chứ không phải chữ phức 輻 (bộ xa 車) nghĩa là nan hoa bánh xe; 2. Chữ tạp, trong từ “phức tạp” 複雜 có nghĩa là pha tạp, không thuần nhất, chứ không mang nghĩa chuyên biệt là “món rau trộn”.

Về hai chữ “giá họa” trong “Tầm nguyên tự điển” của Lê Văn Hòe

Trong chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa kì này, chúng tôi xin tiếp tục bàn đến một từ khác, đó là từ “giá họa”.

Mục “giá họa” 嫁禍, Vân Hạc Lê Văn Hòe giảng: “giá là gả chồng cho con gái. Họa là vạ, sự không may. Giá-họa là gả cái vạ, gán cái vạ, cho ai, hay là bắt người ta nhận lấy cái vạ ấy, mà đáng lẽ người ta không phải chịu”.

Tuy nhiên, nếu xét về mặt từ nguyên và lịch sử ngữ nghĩa của chữ “giá” 嫁, cần có sự phân biệt rõ hơn để tránh hiểu rằng chữ “giá” trong “giá họa” vẫn còn mang nguyên nghĩa “gả”, “gả chồng”.

Thuyết văn giải tự, giảng chữ “giá” 嫁 nghĩa là “nữ thích nhân dã 女適人也” (Con gái về với người khác, tức đi lấy chồng). Đây là nghĩa gốc của chữ giá 嫁, chỉ người nữ xuất giá, rời nhà mình để về nhà chồng.

Hán ngữ đại từ điển ghi cho chữ “giá” 3 nghĩa: 1. Nữ tử kết hôn, xuất giá, nghĩa là: con gái lấy chồng, về nhà chồng; 2. Vãng, phó, nghĩa là: đi đến, đi sang, hướng đến,... Mục này từ điển dẫn chú của Quách Phác: “Tự gia nhi xuất vị chi giá, do nữ xuất vị giá”, nghĩa là: Từ nhà mình mà đi ra thì gọi là giá; cũng như người con gái ra khỏi nhà gọi là giá.

Như vậy, ban đầu “giá” 嫁 (nữ 女 chỉ nghĩa, gia 家 chỉ âm) có nghĩa là con gái đi lấy chồng, đi sang, về nhà khác. Từ nghĩa gốc này, chữ giá 嫁 phát triển theo nhiều hướng ngữ nghĩa khác nhau. Một mặt, nó vẫn giữ nghĩa chỉ về hôn nhân: gả con gái. Chẳng hạn từ giá tử 嫁子 có một nghĩa là gả con gái (giá nữ nhi - 嫁女兒); một nghĩa dùng để gọi chính con gái (nữ vị chi giá tử 女謂之嫁子 = con gái gọi là “giá tử”), vì con gái là người sẽ đi lấy chồng, về với người khác. Ở đây, có thể thấy rõ sự chuyển nghĩa từ hành động “đi lấy chồng”, chữ “giá” 嫁 được dùng để chỉ đối tượng mang thuộc tính ấy - tức người con gái.

Tuy nhiên, có một hướng phát triển quan trọng khác của chữ “giá” 嫁 là: chuyển sang người khác, gán sang người khác, đổ sang người khác. Điều này được Khang Hy từ điển ghi cho nghĩa thứ 3: “hựu thôi ác vu nhân viết giá - 又推惡于人曰嫁 (lại có nghĩa là: đem điều xấu đẩy sang người khác thì gọi là “giá”).

Như vậy, trong từ giá họa 嫁禍, chữ giá 嫁 không còn mang nghĩa trực tiếp là “gả chồng” nữa. Điều này được chứng minh qua hàng loạt tổ hợp từ có chữ giá: giá họa 嫁禍: chuyển tai họa sang người khác, đổ vạ cho người khác; giá oán 嫁怨: gán thù oán, chuyển thù oán sang người khác; giá danh 嫁名: mượn, gán hoặc đội danh nghĩa người khác. Trong các trường hợp này, 嫁 đã trở thành một động từ mang nghĩa ổn định: chuyển sang, quy sang, gán sang, đổ cho người khác chịu.

Dĩ nhiên, xét về lịch sử từ nguyên, nghĩa ấy vẫn bắt nguồn từ nghĩa gốc: con gái đi lấy chồng, gả chồng cho con gái. Nhưng về mặt đồng đại, không nên hiểu chữ giá trong giá họa vẫn có nghĩa là “gả”, mà chữ giá đã có nghĩa phái sinh: đem, chuyển, gán, đổ tai họa sang cho người khác gánh chịu.

Tóm lại, như chúng tôi đã viết, cách giảng của Vân Hạc Lê Văn Hòe đối với từ “giá họa” có ưu điểm ở tính cụ thể, giàu hình tượng, giúp người đọc dễ liên tưởng đến hành động “chuyển cái vạ sang người khác”. Tuy nhiên, xét về lịch sử ngữ nghĩa của chữ giá 嫁, cần lưu ý rằng trong “giá họa”, chữ giá không còn mang nghĩa gốc “con gái đi lấy chồng” hay “gả con gái” nữa, mà đã phát triển thành nghĩa phái sinh: chuyển sang, gán sang, đổ sang cho người khác. Nói cách khác, “giá họa” không nên hiểu theo nghĩa trực tiếp là “gả cái họa”, mà là chuyển, đẩy, quy cái họa sang cho người khác gánh chịu.

Mẫn Nông (CTV)



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]