(vhds.baothanhhoa.vn) - Phát triển sinh kế ở miền núi không chỉ đòi hỏi thay đổi cách sản xuất mà còn cần những phương thức phù hợp để nâng giá trị và mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Trong quá trình đó, việc ứng dụng kỹ thuật và công nghệ đang giúp người dân chủ động hơn từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, qua đó tạo thêm cơ hội phát huy những lợi thế sẵn có của địa phương.

Khi công nghệ tiếp sức sinh kế

Phát triển sinh kế ở miền núi không chỉ đòi hỏi thay đổi cách sản xuất mà còn cần những phương thức phù hợp để nâng giá trị và mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Trong quá trình đó, việc ứng dụng kỹ thuật và công nghệ đang giúp người dân chủ động hơn từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, qua đó tạo thêm cơ hội phát huy những lợi thế sẵn có của địa phương.

Khi công nghệ tiếp sức sinh kế

Áp dụng công nghệ lên men chủ động tại HTX Bản Thổ.

Từ cách làm đến giá trị sản phẩm

Với người Mông ở xã Quang Chiểu, nếp Cay Nọi từ lâu là hạt gạo gắn với bữa ăn hằng ngày. Người dân trồng giống lúa này để phục vụ gia đình, như người miền xuôi trồng lúa tẻ. Hạt nếp Cay Nọi dần được biết đến rộng hơn từ những món quà mà người miền xuôi lên vùng cao công tác mua về.

Từ chỗ trồng để ăn, Cay Nọi dần trở thành hàng hóa. Xa hơn, người dân và các đơn vị liên kết từng bước xây dựng sản phẩm OCOP, đưa hạt gạo trở thành sản phẩm đặc trưng của vùng cao Quang Chiểu, có thể làm quà biếu, quà tặng. Hiện nay, diện tích lúa Cay Nọi của xã vẫn được duy trì với hơn 300ha.

Khi sản phẩm có thương hiệu, cách bán hàng cũng thay đổi. Bên cạnh chợ truyền thống, zalo, facebook được sử dụng để giới thiệu sản phẩm, kết nối với khách hàng. Từ khi có sản phẩm OCOP, khoảng 30% sản lượng gạo nếp Cay Nọi được tiêu thụ qua các kênh này. Nhờ đó, thông tin về sản phẩm có thể đến với người mua ở những địa bàn xa hơn mà không hoàn toàn phụ thuộc vào các kênh phân phối truyền thống.

Tuy nhiên, mở rộng thị trường cũng đặt ra yêu cầu duy trì chất lượng và tổ chức sản xuất ổn định. Ngày 23/9/2026, hai ban điều hành mô hình trồng lúa nếp Cay Nọi tại thôn Mường Sim và Mường Pùng được ra mắt. Cùng với việc kết nối các hộ sản xuất, các thành viên được cán bộ ngành nông nghiệp hướng dẫn kỹ thuật thâm canh, gieo cấy, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Việc đưa sản phẩm ra thị trường vì thế cần đi cùng với nâng cao kỹ thuật ngay từ đồng ruộng.

Nếu ở Quang Chiểu, công nghệ số giúp sản phẩm truyền thống tiếp cận người mua, thì tại xã Thanh Kỳ, công nghệ lại phát huy vai trò trong việc chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm sản xuất giữa các hộ dân.

Bà Hoàng Thị Yên, xã Thanh Kỳ, từng bước thoát nghèo nhờ được hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi. Hiện gia đình bà nuôi hơn 200 con lợn, đồng thời gieo ươm cây keo giống cung cấp cho người dân trong vùng. Từ kinh nghiệm vươn lên của bản thân, bà Yên tích cực chia sẻ kiến thức sản xuất với hội viên phụ nữ từ hỗ trợ trực tiếp “cầm tay chỉ việc” đến kết hợp trao đổi qua các nhóm zalo. Công nghệ số nhờ đó trở thành một kênh lan tỏa kinh nghiệm, giúp việc hỗ trợ sinh kế vượt ra ngoài phạm vi từng gia đình.

Cũng từ vùng đất cằn cỗi ở Xuân Du, anh Hoàng Anh Tuấn từng bước mở rộng sản xuất, đưa cây đào bản địa, cây rau má rồi các giống nho vào canh tác. Khi quy mô sản xuất tăng lên, việc áp dụng kỹ thuật phù hợp trở thành yêu cầu cần thiết để nâng hiệu quả và giảm những công việc phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.

Với rau má, anh Tuấn đầu tư nhà sấy nhằm chủ động khâu làm khô, giảm phụ thuộc vào thời tiết, thuận lợi hơn cho bảo quản và chế biến nguyên liệu. Với cây nho, hệ thống tưới nhỏ giọt giúp cung cấp nước theo nhu cầu của cây, giảm công chăm sóc và chủ động hơn trong điều tiết nước tưới.

Khi kỹ thuật hỗ trợ sản xuất, công nghệ số tiếp tục được anh Tuấn sử dụng ở khâu bán hàng. Những buổi livestream ngay tại vườn giúp khách hàng theo dõi quá trình chăm sóc, thu hoạch và lựa chọn sản phẩm. Từ chỗ chủ yếu bán tại vườn, sản phẩm có thêm cơ hội tiếp cận khách hàng ngoài địa bàn.

Nho Kyoho Nhật Bản hiện được anh Tuấn bán với giá trên 100.000 đồng/kg; nho sữa Hàn Quốc có giá khoảng 300.000 - 400.000 đồng/kg tùy thời điểm. Trang trại cũng đã có những đơn đặt hàng từ các hệ thống thực phẩm và doanh nghiệp. Những kết quả này cho thấy việc ứng dụng công nghệ không nhất thiết phải bắt đầu từ những quy trình phức tạp, mà có thể xuất phát từ nhu cầu cụ thể: chủ động tưới nước, xử lý nguyên liệu sau thu hoạch hay giới thiệu sản phẩm đến khách hàng.

Mở rộng đường ra thị trường

Ở xã Hóa Quỳ, chị Nguyễn Lê Ngọc Linh, Giám đốc HTX Bản Thổ, lại chọn cách khai thác lợi thế của đất rừng và sản vật bản địa để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn.

Mô hình “Vườn rừng bản Thổ” được xây dựng từ năm 2014 trên diện tích ban đầu 3ha, theo hướng kết hợp nhiều tầng cây, nhiều loài cây bản địa, tạo nguồn nguyên liệu tự nhiên. Từ nguồn nguyên liệu ấy, chị Linh từng bước phát triển các sản phẩm đặc trưng, trong đó mật ong là một sản phẩm chủ lực.

Khi công nghệ tiếp sức sinh kế

Anh Hoàng Anh Tuấn (bên trái) đang giới thiệu nho qua livestream để mở rộng thị trường tiêu thụ.

Không chỉ bán mật ong nguyên chất, chị phát triển các sản phẩm mật ong lên men kết hợp với gừng, nghệ, sâm, chùm ngây. Mô hình hiện có nhiều dòng sản phẩm, trong đó có sản phẩm được công nhận OCOP 3 sao.

Trong sản xuất, HTX đầu tư lò sấy sử dụng năng lượng mặt trời để chủ động xử lý nguyên liệu, giảm phụ thuộc vào thời tiết, hỗ trợ bảo quản và chế biến. Đồng thời, HTX áp dụng công nghệ sinh học lên men chủ động gia tăng dinh dưỡng cho sản phẩm nông sản. Cùng với đó, việc đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá và giới thiệu sản phẩm giúp HTX tìm thêm những kênh tiếp cận người tiêu dùng. Hiện, 90% sản phẩm mật ong lên men của “Vườn rừng bản Thổ” được tiêu thụ qua kênh facebook.

Từ một sản phẩm được làm ra giữa vùng đồi núi Hóa Quỳ, thông tin về sản phẩm nay có thể đến với khách hàng trên môi trường số. Khoảng cách giữa nơi sản xuất và người tiêu dùng được rút ngắn, mở thêm cơ hội để sản vật địa phương tìm được thị trường.

Từ Cay Nọi đến rau má, nho và các sản phẩm mật ong Bản Thổ, cách ứng dụng công nghệ không giống nhau. Có nơi bắt đầu từ kỹ thuật sản xuất, có nơi từ chế biến, cũng có nơi tập trung vào bán hàng. Điểm chung là công nghệ được đặt vào những khâu đang cần thay đổi nhất để sản phẩm có thể làm tốt hơn và đi xa hơn.

Ở những vùng sản xuất còn nhiều hạn chế về quy mô và thị trường, một thay đổi trong cách làm đôi khi mở ra thêm nhiều cơ hội. Khi kiến thức sản xuất được cập nhật, việc ứng dụng kỹ thuật trở nên thuận lợi hơn, sản phẩm được chú trọng từ khâu làm ra đến bảo quản, giới thiệu và tiêu thụ. Cùng với đó, khoảng cách giữa người sản xuất và thị trường cũng dần được rút ngắn.

Từ những thay đổi ấy, giá trị của nông sản địa phương không còn chỉ được tính ở sản lượng thu hoạch. Một sản phẩm được làm ra ổn định hơn, giữ được chất lượng tốt hơn và tìm được nhiều kênh tiêu thụ hơn sẽ có thêm khả năng tạo thu nhập cho người làm ra nó.

Đó là ý nghĩa thiết thực của việc đưa công nghệ vào sinh kế, bắt đầu từ những nhu cầu rất cụ thể của sản xuất, từng bước tháo gỡ những điểm nghẽn về kỹ thuật, bảo quản và thị trường, để người dân có thêm lựa chọn trong cách làm ăn và có thêm cơ hội nâng giá trị từ những gì mình đang có.

Bài và ảnh: Thúy Lượng



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]