(vhds.baothanhhoa.vn) - “Làng ta tục sĩ nhân thần/ Địa linh nhân kiệt hồng quần kém ai”. Đó là câu ca mà người làng Đểnh (Trịnh Lộc) xã Yên Phú vẫn thường tự hào nói với nhau. Bởi cho đến nay, hiếm địa phương nào còn giữ được cả một quần thể nghệ thuật tượng đá như nơi đây.

Làng Trịnh Lộc - “Địa linh nhân kiệt hồng quần kém ai”

“Làng ta tục sĩ nhân thần/ Địa linh nhân kiệt hồng quần kém ai”. Đó là câu ca mà người làng Đểnh (Trịnh Lộc) xã Yên Phú vẫn thường tự hào nói với nhau. Bởi cho đến nay, hiếm địa phương nào còn giữ được cả một quần thể nghệ thuật tượng đá như nơi đây.

Làng Trịnh Lộc - Địa linh nhân kiệt hồng quần kém ai

Một góc thôn Trịnh Lộc, xã Yên Phú.

Là vùng cửa ngõ tiếp giáp với khu vực núi rừng phía Tây của Thanh Hóa nên xưa kia, rừng ở Yên Phú chiếm diện tích khá lớn với nhiều cây gỗ quý như lim, dổi... và có nhiều động vật hoang dã về đây trú ngụ như hổ, báo, lợn rừng...

Ngoài ra, lại có sông Cầu Chày nằm trong hệ thống sông Mã cùng với các chi lưu của nó chảy qua nên khá thuận lợi cho địa phương trong giao thông đường thủy và phát triển nông nghiệp trồng lúa nước. Thuyền, bè địa phương từ sông Cầu Chày nối với sông Mã ngược xuôi lên rừng xuống biển tới các vùng miền trong và ngoài tỉnh.

Điều kiện địa lý tự nhiên với đất đai, sông ngòi, khí hậu ở Yên Phú khiến người dân dễ dàng phát triển kinh tế. Trong đó, trọng tâm là phát triển kinh tế nông nghiệp trồng trọt thâm canh lúa, hoa màu, cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi trâu, bò, gia cầm nuôi thả cá... Đồng thời, đẩy mạnh ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như sản xuất vật liệu xây dựng, mộc dân dụng, dịch vụ...

Làng Trịnh Lộc - Địa linh nhân kiệt hồng quần kém ai

Khu kiến trúc đá Bái Lăng - di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh được công nhận năm 1995.

Ở Yên Phú xưa chỉ có 2 làng là Bùi Hạ và Trịnh Lộc. Theo Lịch sử Đảng bộ xã Yên Phú, 1947-2010, NXB Thanh Hóa, 2011 thì làng Trịnh Lộc (còn gọi là Trịnh Lọc) được lập dựng từ thời Tiền Lê (thế kỷ X) do Đào Lang - một danh tướng quê ở Bùi Đỉnh (Yên Phú ngày nay) tạo dựng. Lúc đầu làng có tên là Trại Đỉnh (mà người dân gọi theo âm vực địa phương là Đểnh). Sau đó, cư dân đông đúc đã lập thành làng. Đến thời Lê - Trịnh vào thế kỷ XVIII, nhà Trịnh xây lăng trên đất của làng với một công trình kiến trúc nghệ thuật đá hoành tráng. Từ đây, tên làng được đổi là Trịnh Lộc với ý nghĩa làng được chúa Trịnh ban lộc. Thời Nguyễn, đầu thế kỷ XIX, thôn Trịnh Lộc, thuộc xã Lộc Bội, tổng Đan Nê, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa. Từ năm Thành Thái thứ 12 (1900) đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 xã Trịnh Lộc, thuộc tổng Đan Nê.

Xưa kia trên đất làng Trịnh Lộc, có chùa, có nghè. Nghè Trịnh Lộc nằm ở phía Nam làng, thờ mẫu Liễu Hạnh và thờ Bà Na - người có công giúp quân lính của Bình định vương Lê Lợi thoát khỏi sự truy đuổi của giặc Minh. Chuyện kể lại rằng, khi quân Minh đến bờ sông Cầu Chày, bà đã dọa chúng: “sông Cầu Chày chó lội đứt đuôi”, quân giặc khiếp sợ phải quay lại không dám lội qua sông.

Chùa làng được xây dựng trên khu đất cao nhất của làng, nên còn gọi là Bái Chùa. Ngoài ra, làng còn có nhà văn chỉ, võ chỉ - nơi thể hiện tinh thần trọng học, thượng võ và truyền thống “uống nước nhớ nguồn”. Đáng tiếc, các di tích nói trên nay không còn nhưng vẫn còn lưu giữ và truyền lại trong lớp lớp người dân về kiến trúc và lệ tế lễ hội làng. Ông Lê Đình Tiêu, trưởng làng Trịnh Lộc, cho biết: “Tôi nhớ những đêm lễ hội, các phường hát bội của làng biểu diễn tích tuồng như Lưu Bình - Dương Lễ, Tống Trân - Cúc Hoa, Kiều Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên...”.

Dù qua nhiều đổi thay về tên gọi, nhưng đối với người dân Trịnh Lộc họ luôn tự hào vì quá trình lịch sử dựng làng và phát triển làng. Hơn hết là sự chung sức đồng lòng của các dòng họ Lê Đình, Ngọ Duy, Lê Văn... từ thuở khai canh, tạo dựng xóm làng đến một thôn Trịnh Lộc đẹp và khang trang như hôm nay.

Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, chiến tranh tàn phá, làng còn lại duy nhất khu kiến trúc đá Bái Lăng. Giai đoạn giữa thế kỷ XVII, cục diện Lê - Trịnh tại Đàng Ngoài hoạt động dưới hình thức “lưỡng đầu chế”: Vua Lê tồn tại trên danh nghĩa, còn mọi quyền lực nằm trong tay phủ chúa. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII, chính quyền chúa Trịnh bắt đầu đối mặt với những cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, đặc biệt liên quan đến quyền kế vị. Trịnh Sâm băng hà, lăng mộ của ông được an táng tại Bái Lăng.

Di tích gồm những pho tượng đá đứng uy nghi, bố trí thành hai hàng với 16 pho tượng phỗng, sĩ đứng chầu uy nghiêm, mỗi bên 8 pho tượng xếp thẳng hàng nhau. Ngay giữa lối vào được đặt tượng hai ông Dã Quỳ cụt hai tay trong tư thế quỳ, tiếp đến là các pho tượng tướng sĩ, voi đá, ngựa đá... Mỗi pho tượng mang một dáng vẻ, hoa văn trên từng pho tượng cũng vô cùng tinh xảo, có hồn. Lịch sử xã cũng như tài liệu khảo tả di tích ghi rõ, những bức tượng đá này được hình thành từ giữa thế kỷ XVIII, thời vua Lê - chúa Trịnh, xây dựng sau khi chúa Trịnh Sâm qua đời.

Theo ông Lê Thế Cường, nguyên Chủ tịch xã Yên Phú, đồng thời là người cao tuổi của làng, cho biết: Trước đây, khu di tích còn có nhà thờ bằng đá, sau đó bị người dân khai thác lấy đá nung vôi. Cách nền đền thờ khoảng 200m là ngôi mộ cũ của chúa Trịnh Sâm, tương truyền trước khi quân Tây Sơn đánh chiếm Thăng Long (1786), con cháu họ Trịnh đã bí mật di chuyển ngôi mộ này về xã Quý Lộc.

Làng Trịnh Lộc - Địa linh nhân kiệt hồng quần kém ai

Khu kiến trúc đá Bái Lăng - di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh được công nhận năm 1995.

Ngoài giá trị kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, khu di tích Bái Lăng còn gắn liền giai thoại Tuyên phi Đặng Thị Huệ bị đày về đây phục dịch, trông nom mộ chúa Trịnh Sâm, sau khi mâu thuẫn nội phủ phát sinh nghiêm trọng. Ở đây, bà ngày đêm gào khóc xin được chết theo chồng. Nhân ngày giỗ chúa đoạn tang, bà đã tuẫn tiết và được an táng cách mộ chúa khoảng 600m. Người dân địa phương luôn lưu truyền câu chuyện cảm động về tình nghĩa của Tuyên phi suốt 3 năm ròng quét dọn ngôi đền thờ, trông nom mộ chúa, khi chết gương mặt bà vẫn đẹp, vẫn mỉm cười.

“Trịnh Lộc ta nay đất có lăng/ Địa hình thiên hạ sánh ai bằng”, câu ca ấy đi cùng các thế hệ người dân trong làng. Sau khi tôn tạo, khu di tích đã được gia cố nền, móng, tu bổ các bộ phận bị sứt của tượng bằng chất liệu đá nguyên gốc, sân khu di tích cũng được lát lại bằng đá. Đến nay công trình đã trở thành điểm tham quan, tín ngưỡng thu hút nhiều du khách”, trưởng thôn Trịnh Lộc Lê Văn Thành khẳng định.

Cảnh xưa người cũ không còn nguyên vẹn, nhưng người dân thôn Trịnh Lộc hiện nay vẫn cố gắng giữ gìn di tích quý giá này như một “chứng nhân” của lịch sử. Để khi nhắc về làng, về thôn, họ tự hào là đất địa linh đã được Trịnh Sâm vị chúa thứ 9 trong 12 đời chúa lựa chọn làm nơi an nghỉ.

(*) Bài viết sử dụng tư liệu trong sách: Lịch sử Đảng bộ xã Yên Phú, 1947-2010, NXB Thanh Hóa, 2011 và một số tài liệu khác.

Bài và ảnh: Kiều Huyền



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]