Món quà của tình nghĩa
Sau khi tốt nghiệp trung cấp sư phạm chuyên ngành văn - sử, Lê Huy Hoàng, một người con của miền biển, lên nhận công tác tại một huyện miền núi Thanh Hóa. Thế rồi sinh ra duyên nợ, bị Pù Luông, Pù Hu, sông Mã thượng nguồn, những đêm khua luống, những lần xắn quần vượt lũ ống lũ quét... níu chân và từ chàng trai của biển, ông trở thành người của “miền rừng”. 40 năm “chốt” bản, “chốt” rừng, “chốt” suối, “chốt” Bá Thước!

Tập thơ Miền ký ức (NXB Hội Nhà văn, 2026) của nhà thơ Lê Huy Hoàng. Ảnh: Ngọc Minh
Anh đưa em về Bá Thước
Một vùng non nước tươi xinh
Mây lắng đáy cho lòng tĩnh lặng
Em có nghe sông Mã tự tình...
Ông gọi đó là “quê mình”, “khúc tình ca” ông viết về “quê mình”, bài thơ là tấm “bản đồ” địa lý tự nhiên và di sản văn hóa của Bá Thước. “Thuộc” Bá Thước đến vậy, thương từng con đò, con dốc, nhớ từng phiên chợ mường Ống, mường Ai, say sưa đến “ngả nghiêng“ với những buổi tung còn, những đêm hội cồng chiêng thì “hồn vía” đã neo ở Cành Nàng, Vạn Cha, La Há, Đồng Tâm, Thung Nong, Bù Mộng... mất rồi, chẳng “về xuôi”[1] nữa mô[2]!
Nặng tình, nặng nghĩa trong lời khẳng định chắc nịch này:
Quê anh đó, điệu pồông pôông,
khua luống
Múa cây bông, nhớ mỗi độ xuân về
Em cứ thử một lần lên Bá Thước
Ngắm chim rừng chiền chiện
giữa hồn quê!
(Khúc tình ca Bá Thước)
Bài thơ chưa cần phổ nhạc đã đầy âm hưởng, một bản hòa tấu nhiều cung bậc và phải dùng đến nhiều nhạc cụ từ truyền thống đến hiện đại: mở đầu là khúc trữ tình nhẹ nhàng, vui tươi trong sáng với cảnh sắc thanh bình: trời xanh, mây trắng, những bãi ngô dọc triền sông, sông Mã hiền hòa xanh trong như thiếu nữ đang tự tình, câu hò vọng lại từ một bến đò xa... Nói theo ngôn ngữ hiện đại là “tuyệt đối điện ảnh”(!). Tiết tấu chuyển nhanh hơn ở khổ thứ ba do câu thơ ngắn lại, câu hỏi, câu cảm thán xuất hiện như thúc giục, mời gọi. Những khổ tiếp theo tác giả đóng vai trai bản dẫn mọi người đi thăm “nhà mình”, “quê mình”, khoe thiên nhiên danh thắng, lịch sử, văn hóa, sản vật quê mình với niềm yêu thương, tự hào không che giấu:
- Phiên chợ muộn bày nào
khoai sắn
Áo cốm xanh, hoa trái tần ngần
- Vạn bước chân dày trên nền đá
Hào khí Lam Sơn một thuở
long trời
- Sốp Hau tiếp Sốp Hau
nhộn nhịp
Vui niềm vui du lịch rừng xanh...
Nghe như có tiếng khua luống rộn ràng, tiếng nói cười, hỏi han của các mế, các ả nàng trong ấy và dường như trong âm hưởng núi rừng xanh thẳm kia có cả tiếng “sóng xô” quê nhà Hoàng Yến (nay là xã Hoằng Tiến) nơi tuổi thơ cậu bé Huy Hoàng chân trần chạy trên bãi cát những chiều hè. Có một “quê nhà” trong tâm thức để rồi hiện ra tinh tế chỉ bằng một tín hiệu nhỏ. Khi người ta sống bằng cả trái tim thì mọi suy nghĩ, cảm xúc sẽ tự động ghi dấu vào tâm khảm, trở thành “mã tâm hồn” của riêng người đó. Bản tình ca Bá Thước khép lại trong vũ điệu nghĩa tình:
Em cứ thử một lần về Bá Thước
Sẽ thấy người dân nặng
nghĩa tình.
Không biết bài thơ đã được phổ nhạc chưa, nó xứng đáng là bài hát riêng về Bá Thước trên nền âm nhạc pồông pôông, khua luống, cồng chiêng, xường cài hoa.
Tập thơ không chỉ viết về Bá Thước, tám tập thơ đã xuất bản trước của tác giả có lẽ Bá Thước đã đầy ắp ở đấy. Người sẵn sàng ở lại 40 năm với Bá Thước từ thời trai trẻ, rồi lấy vợ sinh con, lập nghiệp... từ lúc “căn nhà chỉ lợp bằng lá cọ/ vách nứa thưng, báo che chắn gió/ nép góc vườn sau của trường cho” rồi trở thành nhà lãnh đạo tin cậy của bà con dân bản. Anh giáo nghèo cắm bản dần trở thành cán bộ tận tụy với sự phát triển của địa phương. Tầm nhìn chiến lược của người lãnh đạo đã khiến Bá Thước đã trở thành điểm sáng rực rỡ nhất trong sức hút du lịch tới miền Tây Thanh Hóa. Người dám hy sinh và cống hiến, cho đi sẽ được nhận lại. Quy luật của lẽ sống cũng là quy luật nhân - quả xưa nay:
Bố lần đầu có con nhỏ trong tay
Mừng hạnh phúc bao điều hòa lẫn
Giường bằng luồng, chăn đơn
chiếu mỏng
Đốt củi rừng chống lạnh thâu đêm
(...) Cảm ơn trời phật đã cho mình
Phúc đức tổ tiên thật hiển linh
Ông bà cho đi cháu con được hưởng
Đời có cho, có nhận nghĩa tình.
(Thơ viết cho con)
Những lời chân thật tận đáy lòng, nếu có một kiểu thơ chỉ chép lại những gì mình nghĩ, mình cảm thì đó là thứ thơ nhật ký, nói khác đi, một thứ nhật ký bằng thơ.
Người thầy giáo dạy văn - sử ngày xưa yêu văn chương và thích làm thơ âu cũng là lẽ thường. Người lãnh đạo yêu văn chương cũng sẽ cận nhân tình, thấu hiểu dân sinh nên trong các kế hoạch quản trị địa phương cũng sẽ lấy dân là gốc. Đừng tìm sự bóng bẩy của nghệ thuật ngôn từ ở đấy, cũng đừng tìm những triết lý xa xôi, ở đây chỉ có những lời tâm sự, những chia sẻ mộc mạc, cụ thể như tấm áo manh quần sẻ chia cho nhau khi đông về, bữa cơm mời bạn khi gặp gỡ. Những bài thơ ấy để đọc cho bạn bè nghe, để nhắc nhở con cháu, để tự đối thoại, tự răn mình và... để tri ân nơi giúp mình trưởng thành.
Tôi gọi đó là những bài thơ nghĩa tình. Đây là tập thơ của nghĩa tình được viết ra bởi một người trọng tình nghĩa và hào sảng.
[1] . Mượn ý trong câu thơ của Quang Dũng: Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy/ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi (Tây Tiến).
[2] . “Mô”, từ địa phương Thanh Hóa, nghĩa “đâu”.
Hỏa Diệu Thúy
{name} - {time}
-
2026-10-15 20:12:00Vận động sáng tác văn học nghệ thuật về những người có công với cách mạng
-
2026-10-11 10:00:00Tìm lại đời mình
-
2026-10-10 16:39:00Khi những giai điệu chạm vào đời sống





![[Thanh Hóa xưa và nay] Ngôi đền lưu dấu thời gian](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2641/290d3165044t1800l1-290d3165038t1807.webp)
![[Thanh Hóa xưa và nay] Đánh thức tiềm năng du lịch từ bản sắc văn hoá](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2641/291d2153947t1800l1-291d2153945t1801.webp)