Nghị quyết 10: Cuộc cạnh tranh hút vốn FDI thế hệ mới của các địa phương
Nghị quyết 10 buộc các địa phương phải thay đổi tư duy quản trị, cạnh tranh bằng hệ sinh thái và khả năng đồng hành cùng nhà đầu tư trong thu hút FDI thế hệ mới.

Nhiều khu công nghiệp phía Nam dần chuyển đổi thu hút bằng lợi thế quỹ đất sang chất lượng môi trường đầu tư. Ảnh: KCN Long Hậu
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bước tiến quan trọng trong định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI của Việt Nam.
Với trọng tâm chuyển sang lựa chọn dòng vốn chất lượng cao, tạo giá trị gia tăng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, chiến lược này cũng đặt các địa phương vào một cuộc cạnh tranh mới đòi hỏi năng lực quản trị, chất lượng môi trường đầu tư và khả năng kiến tạo hệ sinh thái phát triển sẽ trở thành yếu tố quyết định sức hấp dẫn của mỗi địa phương trong mắt các nhà đầu tư quốc tế.
Cuộc đua chuyển dịch từ hút vốn sang chất lượng môi trường đầu tư
Nghị quyết 10 xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và phát triển bền vững làm tiêu chí chủ yếu trong thu hút đầu tư.
Theo ông Sử Ngọc Khương, Giám đốc cấp cao Bộ phận Tư vấn đầu tư Savills Việt Nam, điểm đáng chú ý nhất của Nghị quyết không nằm ở mục tiêu thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký giai đoạn 2026-2030, mà ở việc tái định vị vai trò của khu vực FDI trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.
“Trong giai đoạn tới, câu hỏi không còn là Việt Nam thu hút được bao nhiêu vốn FDI, mà là thu hút được bao nhiêu công nghệ, bao nhiêu tri thức và bao nhiêu giá trị gia tăng cho nền kinh tế”, ông Khương nhận định.
Theo chuyên gia này, trong bối cảnh dư địa cạnh tranh bằng chi phí ngày càng thu hẹp do thuế tối thiểu toàn cầu và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, các nhà đầu tư ngày càng quan tâm nhiều hơn tới tính minh bạch của môi trường đầu tư, khả năng dự báo chính sách, hiệu quả thực thi pháp luật và chất lượng quản trị.
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc cuộc cạnh tranh trong thu hút FDI sẽ không còn được quyết định bởi mức ưu đãi cao hơn hay chi phí thấp hơn, mà bởi khả năng tạo dựng niềm tin đối với nhà đầu tư thông qua sự ổn định, nhất quán và hiệu quả trong thực thi chính sách.
Địa phương phải thay đổi tư duy phát triển
Ông Robert Linh, Giám đốc nền tảng số Vietnam Industry Zone (VietnamIZ), cho rằng thách thức lớn nhất với các địa phương trong chuyển dịch sang hút FDI thế hệ mới không nằm ở nguồn lực mà nằm ở chuyển đổi tư duy phát triển.
Theo ông, trong nhiều năm qua, nhiều địa phương cạnh tranh bằng diện tích khu công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy hay quy mô vốn FDI đăng ký. Đây là những chỉ số phù hợp trong giai đoạn Việt Nam cần thu hút vốn đầu tư. Tuy nhiên, khi quỹ đất công nghiệp ngày càng hạn chế, chi phí lao động tăng lên và thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng, những lợi thế truyền thống đang dần thu hẹp.
"Điều Nghị quyết 10 đặt ra là phải chuyển từ tư duy ’thu hút dự án“sang”lựa chọn nhà đầu tư có khả năng tạo giá trị gia tăng'.
Ông Robert Linh - Chuyên gia nghiên cứu đầu tư quốc tế
Theo đó, địa phương không chỉ quan tâm doanh nghiệp đầu tư bao nhiêu vốn mà còn cần đánh giá doanh nghiệp mang đến công nghệ gì, có tạo việc làm chất lượng cao hay không, có góp phần giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu hay không.
Ông Robert Linh nhận định giai đoạn tới sẽ xuất hiện một cuộc cạnh tranh hoàn toàn mới giữa các địa phương. Đó không còn là cuộc đua xem nơi nào có nhiều khu công nghiệp hơn, mà là nơi nào xây dựng được hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh hơn, từ hạ tầng logistics, năng lượng, nguồn nhân lực đến dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và năng lực quản trị.
Dẫn chứng kinh nghiệm từ Singapore, Giám đốc VietnamIZ cho rằng một quốc gia không có lợi thế về quỹ đất vẫn có thể liên tục thu hút các tập đoàn hàng đầu thế giới nhờ cạnh tranh bằng hiệu quả điều hành, chất lượng dịch vụ công và môi trường đổi mới sáng tạo. Đây cũng là hướng đi Việt Nam cần hướng tới để thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới.
“Nhìn từ góc độ cạnh tranh quốc tế, trong giai đoạn mới, nhà đầu tư không còn đi tìm nơi có chi phí thấp nhất, mà sẽ lựa chọn nơi có mức độ tin cậy và khả năng đồng hành cao nhất”, ông Robert Linh nhận định.
Cạnh tranh bằng trải nghiệm đầu tư thay vì ưu đãi
Theo ông Robert Linh, lợi thế cạnh tranh của một địa phương hay một khu công nghiệp trong tương lai sẽ không còn được quyết định bởi mức ưu đãi, mà bởi chất lượng trải nghiệm đầu tư.
Các tập đoàn đa quốc gia hiện đánh giá toàn bộ chi phí trong vòng đời dự án, từ thời gian hoàn thành thủ tục, khả năng tiếp cận hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, tính ổn định của chính sách, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ESG cho đến mức độ minh bạch của dữ liệu.
Vì vậy, các địa phương cần chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang cung cấp dịch vụ đầu tư. Nhà đầu tư cần một đầu mối có thể đồng hành từ giai đoạn tìm hiểu địa điểm, triển khai dự án đến mở rộng sản xuất, thay vì phải làm việc với nhiều cơ quan khác nhau.
Một yêu cầu khác được ông Robert Linh nêu là đẩy nhanh chuyển đổi số trong xúc tiến đầu tư. Khi quyết định khảo sát thực địa, phần lớn nhà đầu tư đều phân tích dữ liệu từ xa. Nếu thông tin về quỹ đất, hạ tầng, giá thuê, lao động hay logistics chưa được số hóa và cập nhật theo thời gian thực thì địa phương đã mất lợi thế ngay từ vòng đánh giá đầu tiên.
Bên cạnh đó, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, các địa phương cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái ngành. Ông dẫn kinh nghiệm của Hàn Quốc, nơi sức hấp dẫn đầu tư không chỉ đến từ các tập đoàn lớn mà còn được tạo nên bởi mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, các trung tâm nghiên cứu, trường đại học và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được kết nối chặt chẽ.
Địa phương nào giúp nhà đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn, chứ không chỉ đầu tư dễ dàng hơn, sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh bền vững.
Thành công phụ thuộc vào năng lực thực thi
Điều quan trọng trong triển khai thu hút, theo ông Sử Ngọc Khương, là khả năng hiện thực hóa các cam kết. Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển hạ tầng hiện đại và bảo đảm tính nhất quán trong thực thi chính sách giữa các cấp quản lý sẽ là điều kiện tiên quyết để Việt Nam thu hút các trung tâm R&D, các dự án công nghệ chiến lược và những tập đoàn đa quốc gia hàng đầu.
Giai đoạn 2026-2030 sẽ không còn là cuộc cạnh tranh về quy mô vốn FDI mà là cuộc cạnh tranh về chất lượng môi trường đầu tư. Nếu các cải cách về thể chế, nhân lực và môi trường kinh doanh được triển khai đồng bộ, Việt Nam có thể chuyển từ vị thế tham gia chuỗi giá trị sang đồng kiến tạo chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Robert Linh đề xuất cần sớm xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng FDI thống nhất trên phạm vi cả nước. Thay vì chỉ đánh giá thông qua số lượng dự án hay tổng vốn đăng ký, cần bổ sung các chỉ số như tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, mức độ chuyển giao công nghệ, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, số việc làm chất lượng cao hay mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Cùng với đó là xây dựng hệ sinh thái dữ liệu đầu tư quốc gia để tăng tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin theo thời gian thực, đồng thời thay đổi cách nhìn về FDI, coi khu vực này là một mắt xích trong chiến lược nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam.
"Thành công của Nghị quyết 10 sẽ không chỉ được đo bằng số vốn FDI thu hút được mà quan trọng hơn là sau mỗi dự án, Việt Nam có thêm bao nhiêu doanh nghiệp nội địa đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Khi đó, cuộc cạnh tranh giữa các địa phương cũng sẽ không còn là cạnh tranh về giá hay ưu đãi, mà là cạnh tranh về năng lực quản trị, chất lượng dịch vụ và khả năng tạo ra giá trị bền vững", ông Robert Linh nói.
{name} - {time}
-
2026-07-07 20:58:00Tôn vinh các tác phẩm xuất sắc về khối đại đoàn kết toàn dân tộc
-
2026-07-06 07:01:00Động lực đổi mới ở Mường Lát
-
2026-07-05 09:50:00Mũi nhọn trên mặt trận bảo vệ an ninh kinh tế






