Tỉnh Thanh Hóa xây dựng 24 mô hình khuyến nông trong năm 2026
Theo Kế hoạch khuyến nông tỉnh Thanh Hóa năm 2026 vừa được ban hành, 24 mô hình trình diễn sẽ được xây dựng trên các lĩnh vực, trong đó: trồng trọt 5 mô hình, chăn nuôi 7 mô hình, lâm nghiệp 5 mô hình, thủy sản 7 mô hình.

Theo Kế hoạch, mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa chất lượng theo hướng giảm phát thải gắn với tiêu thụ sản phẩm thực hiện với quy mô 160 ha. (Ảnh minh họa: Hoàng Đông)
Lĩnh vực trồng trọt tập trung xây dựng các mô hình khuyến nông trên các sản phẩm chủ lực theo hướng công nghệ cao, hữu cơ, giảm phát thải, nâng cao năng suất và chất lượng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, cụ thể:
(1) Mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa chất lượng theo hướng giảm phát thải gắn với tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 160 ha với mục tiêu áp dụng tiến bộ kỹ thuật và các biện pháp canh tác kỹ thuật như IPHM, ICM, IPM, SRI, 3 tăng 3 giảm, tưới nước tiết kiệm..., áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp giúp người nông dân giảm chi phí sản xuất (giảm lượng giống, giảm thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ, phân bón, công lao động,...) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm phục vụ nội tiêu và xuất khẩu lúa gạo, đồng thời góp phần giảm lượng khí phát thải nhà kính tại các vùng sản xuất lúa. Xây dựng và phát triển bền vững vùng lúa, liên kết sản xuất với tiêu thụ lúa giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
(2) Mô hình sản xuất bí xanh theo hướng VietGAP: Thực hiện với quy mô 10 ha, nhằm áp dụng các quy trình theo hướng VietGAP trong sản xuất rau quả an toàn, nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm; gắn sản xuất với liên kết tiêu thụ ổn định, hình thành các vùng sản xuất tập trung rau quả an toàn, giảm chi phí đầu vào, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân, phát triển nông nghiệp an toàn và bền vững.
(3) Mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng cây hàng năm kém hiệu quả sang trồng cây na: Thực hiện với quy mô 4 ha nhằm khai thác lợi thế đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm; gắn sản xuất với liên kết tiêu thụ để ổn định đầu ra, nâng cao thu nhập cho nông dân và phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.
(4) Mô hình sản xuất hàng hoá tập trung cây ngô ngọt gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 20 ha nhằm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với liên kết tiêu thụ ổn định, góp phần tăng thu nhập cho nông dân, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững.
(5) Xây dựng mô hình thâm canh các giống nho mới theo tiêu chuẩn VietGAP gắn với thị trường tiêu thụ: Thực hiện với quy mô 0,5 ha, mục tiêu đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng và hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, trồng một số các loại giống nho mới theo tiêu chuẩn VietGAP, phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh nhằm đột phá về năng suất sản lượng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao hiệu quả kinh tế, tiến đến nhân rộng, tạo vùng nguyên liệu để phát triển thành sản phẩm OCOP tại các địa phương trong tỉnh.
Lĩnh vực chăn nuôi tập trung chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, xây dựng các mô hình khuyến nông trên các sản phẩm chủ lực, theo hướng công nghệ cao; phát triển chăn nuôi vật nuôi bản địa, con nuôi đặc sản, nâng cao năng suất và chất lượng, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, cụ thể:
(1) Mô hình chăn nuôi gà thịt thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 14.000 con nhằm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế; đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường; tạo chuỗi giá trị bền vững, góp phần phát triển ngành chăn nuôi hàng hóa hiện đại.
(2) Mô hình chăn nuôi ngan Pháp thương phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 3.700 con nhằm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế; đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường; tạo chuỗi giá trị bền vững, góp phần phát triển ngành chăn nuôi hàng hóa hiện đại.
(3) Mô hình chăn nuôi vịt siêu thịt thương phẩm gắn với tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 9.000 con nhằm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế; đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường; tạo chuỗi giá trị bền vững, góp phần phát triển ngành chăn nuôi hàng hóa hiện đại.
(4) Mô hình chăn nuôi gà sinh sản theo hướng công nghệ cao gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 5.000 con nhằm ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ (chuồng nuôi hiện đại, tự động hóa khâu cho ăn, uống, kiểm soát nhiệt độ - độ ẩm, xử lý chất thải...), nâng cao nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế; đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường; hình thành chuỗi giá trị bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi theo hướng bền vững và cạnh tranh.

Hộ dân ở vùng đệm Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa phát triển mô hình nuôi ong lấy mật. (Ảnh: Hoàng Đông)
(5) Mô hình nuôi ong lấy mật tạo sản phẩm OCOP: Thực hiện với quy mô 160 đàn, áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi ong an toàn để lấy mật làm sản phẩm OCOP, nhằm đa dạng đối tượng vật nuôi và sản phẩm chăn nuôi, khai thác các tiềm năng sẵn có từ tự nhiên tại các vùng sinh thái phù hợp, phát huy lợi thế vùng miền hướng đến sản xuất hàng hóa đặc trưng, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của thị trường, nâng cao thu nhập cho nông hộ và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững.
(6) Mô hình chăn nuôi vịt Bầu thương phẩm nhằm phục vụ phát triển du lịch và đáp ứng nhu cầu thị trường: Thực hiện với quy mô 2.500 con, xây dựng hướng chăn nuôi vịt Bầu hàng hóa đặc sản gắn với thế mạnh miền núi, vừa tạo nguồn thực phẩm an toàn, chất lượng cao phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa hình thành sản phẩm du lịch trải nghiệm đặc trưng, qua đó góp phần bảo tồn giống bản địa, nâng cao giá trị kinh tế và thúc đẩy sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
(7) Mô hình chăn nuôi vịt Cổ Lũng thương phẩm nhằm phục vụ phát triển du lịch và đáp ứng nhu cầu thị trường: Thực hiện với quy mô 5.000 con, xây dựng hướng chăn nuôi vịt Cổ Lũng hàng hóa đặc sản gắn với thế mạnh miền núi, vừa tạo nguồn thực phẩm an toàn, chất lượng cao phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa hình thành sản phẩm du lịch trải nghiệm đặc trưng, qua đó góp phần bảo tồn giống bản địa, nâng cao giá trị kinh tế và thúc đẩy sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
Lĩnh vực lâm nghiệp tập trung xây dựng các mô hình khuyến nông thông qua chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, các giải pháp nông nghiệp hiệu quả và gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, cụ thể:
(1) Mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn theo hướng công nghệ cao gắn với tiêu thụ sản phẩm (keo lai mô): Thực hiện với quy mô 160 ha nhằm chuyển giao các giống keo lai có năng suất, chất lượng cao và tiến bộ kỹ thuật lâm sinh về trồng rừng keo lai góp phần hình thành vùng nguyên liệu sản xuất gỗ lớn theo hướng quản lý rừng bền vững phục vụ nhu cầu chế biến trong nước và xuất khẩu; nâng cao năng suất và chất lượng gỗ rừng trồng, tăng hiệu quả kinh tế cho các hộ tham gia.
(2) Mô hình trồng rừng thâm canh keo lá tràm theo hướng công nghệ cao: Thực hiện với quy mô 50 ha nhằm ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống keo lá tràm sản xuất bằng công nghệ nuôi cấy mô, sinh trưởng nhanh, sinh khối lớn, độ đồng đều cao phục vụ trồng rừng tại tỉnh; áp dụng đồng bộ biện pháp kỹ thuật trong trồng thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng, tạo ra sản phẩm có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu thị trường và xuất khẩu, góp phần bảo vệ môi trường, sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu.
(3) Mô hình trồng rừng thâm canh cây quế làm vùng nguyên liệu cho chế biến tinh dầu và sản phẩm OCOP: Thực hiện với quy mô 12 ha nhằm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật lâm sinh để phát triển cây quế theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo hình thành các vùng trồng quế tập trung tại một số địa phương có điều kiện phù hợp, tạo liên kết sản suất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ, là vùng nguyên liệu cho chế biến tinh dầu quế, hình thành chuỗi ngành hàng có giá trị cao; áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị, thương hiệu và sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
(4) Mô hình trồng thâm canh cây dược liệu gắn với tiêu thụ sản phẩm (cây gừng): Thực hiện với quy mô 3 ha nhằm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật để phát triển cây gừng theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế; ổn định đầu ra cho người nông dân; phát triển vùng dược liệu bền vững. (5) Mô hình trồng thâm canh cây dược liệu gắn với tiêu thụ sản phẩm (cát sâm): Thực hiện với quy mô 4 ha nhằm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật để phát triển cây cát sâm theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế; ổn định đầu ra cho người nông dân; phát triển vùng dược liệu bền vững.

Nuôi tôm trong nhà màng ở Thanh Hóa.
Lĩnh vực thủy sản tập trung xây dựng các mô hình khuyến nông ứng dụng các tiến bộ mới, công nghệ cao; phát triển nuôi trồng các đối tượng thủy đặc sản; các mô hình sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn VietGAP, nông nghiệp theo hướng hữu cơ, tuần hoàn, sinh thái, giảm phát thải và gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm, cụ thể:
(1) Mô hình ứng dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật nuôi tôm công nghệ cao đạt tiêu chuẩn VietGAP (tôm thẻ chân trắng): Thực hiện với quy mô 1 ha nhằm ứng dụng công nghệ cao, ứng dụng thiết bị công nghệ, công nghệ sinh học... vào nuôi tôm nhằm thúc đẩy nghề nuôi tôm trở thành ngành sản xuất chủ lực cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
(2) Phát triển nghề nuôi cá lồng trên hồ chứa gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm (cá nheo mỹ): Thực hiện với quy mô 400 m3 nhằm khai thác tiềm năng và sử dụng hiệu quả mặt nước để phát triển nuôi cá lồng thành một ngành sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Tăng quy mô sản xuất và chuyển đổi sang lồng nuôi công nghiệp, đồng bộ, an toàn, hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường sinh thái; liên kết tiêu thụ tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài tỉnh; giải quyết việc làm, ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân vùng miền núi.
(3) Mô hình ứng dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật nuôi thâm canh cá rô phi gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 1,4 ha nhằm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng cá rô phi, đảm bảo an toàn thực phẩm và môi trường; giảm chi phí và rủi ro; tạo liên kết tiêu thụ ổn định; từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống người nông dân và phát triển nuôi thủy sản bền vững.
(4) Mô hình ứng dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật nuôi thâm canh cá vược gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 1 ha nhằm khai thác tiềm năng, sử dụng hiệu quả diện tích mặt nước để phát triển nuôi cá vược có giá trị thành sản xuất hàng hóa quy mô lớn, an toàn, hiệu quả, bền vững, nâng cao năng suất và chất lượng thông qua việc ứng dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật nuôi thâm canh, tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh cao, đồng thời đảm bảo chuỗi liên kết bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ, góp phần tăng thu nhập và phát triển kinh tế cho người nuôi.
(5) Mô hình liên kết nuôi cá trê đồng theo hướng hữu cơ gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm: Thực hiện với quy mô 1 ha nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, đảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống người nông dân và phát triển nuôi thủy sản bền vững.
(6) Mô hình nuôi luân canh tôm càng xanh - lúa theo hướng hữu cơ: Thực hiện với quy mô 3 ha nhằm áp dụng quy trình quảng canh cải tiến trong nuôi nuôi luân canh các đối tượng nhằm đa dạng hoá đối tượng nuôi, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc sử dụng các loài thủy sản có khả năng chịu đựng tốt với điều kiện môi trường thay đổi có tính bền vững.
(7) Mô hình nuôi xen ghép cá - lúa theo hướng hữu cơ: Thực hiện với quy mô 3 ha nhằm đa dạng hoá đối tượng nuôi, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc sử dụng các loài thủy sản có khả năng chịu đựng tốt với điều kiện môi trường thay đổi có tính bền vững.
Xem toàn văn Kế hoạch tại đây.
NM
{name} - {time}
-
2025-11-29 11:15:00Viết tiếp ước mơ an cư ở Tam Thanh
-
2025-11-29 10:08:00Xuất hiện ổ dịch sởi tại một số địa phương, Bộ Y tế chỉ đạo tăng cường công tác phòng, chống bệnh
-
2025-11-29 05:34:00Đồng ý điều chỉnh thời gian thực hiện dự án Cầu trung tâm đô thị thị trấn Cành Nàng
Tăng cường chủ động triển khai các nội dung công việc trong quá trình đánh giá, xác định Chỉ số cải cách hành chính năm 2025
Khẩn trương giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường tại Khu xử lý rác thải Đông Nam
Tăng cường quản lý chất lượng môi trường nước mặt đối với sông, hồ nội tỉnh
Hỗ trợ kinh phí thực hiện sửa chữa các cầu treo đang khai thác trên địa bàn tỉnh






