Cường Quốc công Lê Hoằng Dục - người giữ quốc thể bằng trí tuệ
Nếu Thái phó Bảo Chính vương Lê Văn Linh được lịch sử ghi nhớ là một khai quốc công thần mưu lược của triều Lê, thì người con trai Lê Hoằng Dục lại lưu danh bởi học vấn uyên thâm, tài văn võ và những đóng góp nổi bật trên mặt trận ngoại giao. Trong thời kỳ hưng thịnh của triều Lê sơ, ông là một trong những vị đại thần góp phần giữ vững quốc thể Đại Việt bằng trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật bang giao mềm dẻo nhưng kiên quyết.

Sau khi mất, Cường Quốc công Lê Hoằng Dục được phong phúc thần và phối thờ tại đền Bảo Chính vương Lê Văn Linh (nay là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Từ đường Lê Trần công thần tộc).
Tổ tiên Lê Hoằng Dục vốn họ Trần, người đất Bảo Đà, huyện Lôi Dương cũ. Sau một lần du ngoạn sơn thủy ghé vùng đất Hải Lịch bên sông Chu, thấy thế đất tươi đẹp, rộng rãi nên đã quyết định dời nhà đến đây sinh sống. Đó là giai đoạn nhà Trần suy vi, họ Hồ chiếm ngôi và giặc Minh xâm lược nước ta. Là người thông tuệ, học rộng hiểu sâu, đứng trước tình cảnh ấy, Trần Văn Linh quyết định ẩn mình. Khi biết được Lê Lợi ở đất Lam Sơn, Trần Văn Linh đã tìm đến, trở thành một trong những anh hùng, hào kiệt tham gia Hội thề Lũng Nhai năm 1416.
Lê Lợi xưng Bình Định Vương, tế cờ khởi nghĩa, Trần Văn Linh trở thành mưu sĩ giúp việc quân cơ, bày kế sách đánh giặc... Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, Lê Lợi lên ngôi, lập nên vương triều nhà Lê. Trần Văn Linh được ban quốc tính; ông làm quan trải qua 3 triều vua, giữ nhiều trọng trách quan trọng.
Là con trai của trọng thần Lê Văn Linh, Lê Hoằng Dục thừa hưởng từ cha trí thông minh, lại được dạy dỗ nghiêm cẩn từ nhỏ nên văn tài càng xuất chúng. Tuy nhiên, bên cạnh văn chương chữ nghĩa, Lê Hoằng Dục còn chăm chỉ rèn luyện võ nghệ. Lớn lên ông trở thành người văn võ toàn tài.
Song, con đường quan nghiệp của ông cũng không hoàn toàn thuận lợi. Khi quan đại thần Lê Sát phạm tội, Lê Văn Linh đã không ngại liên lụy mà xin cho đồng liêu được nhẹ tội, vì thế mà ông bị vua trách phạt. Những người con trai của Lê Văn Linh cũng chịu hệ lụy.
Về sau, Lê Hoằng Dục làm một chức quan nhỏ trong triều dưới quyền của Lê Đắc Ninh. Khi xảy ra “Loạn Nghi Dân”, dẫu không trực tiếp tham gia binh biến nhưng Lê Hoằng Dục cũng không tránh khỏi bị liên lụy. Tuy nhiên, khi vua Lê Thánh Tông lên ngôi, đấng minh quân biết Lê Hoằng Dục là người trung nghĩa nên đã trọng dụng. Cũng có tài liệu viết rằng, khi còn nhỏ (tức Hoàng tử Lê Tư Thành), vua Lê Thánh Tông đã từng được Lê Hoằng Dục dạy dỗ, biết rõ tài năng của ông nên quý mến. Đầu đời Quang Thuận, Hoằng Dục làm Thượng thư Bộ Lễ kiêm Thái thường tự khanh.
Năm Mậu Tý (1468) vua Lê Thánh Tông về Lam Kinh, trong đoàn các quan theo hầu vua có Lê Hoằng Dục. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư: “Tháng 8, các quan theo hầu vua về Lam Kinh. Vua cùng Hoàng thái tử và Kỳ Quận công Lê Niệm cùng quan theo hầu là bọn Lê Hoằng Dục, Đỗ Nhuận, Quách Đình Bảo, vua tôi xướng họa, làm ra tập thơ “Anh hoa hiếu trị”, có nhiều câu nghe kêu như tiếng vàng ném xuống”. Tương truyền, sau chuyến đi này, Lễ bộ Thượng thư Lê Hoằng Dục được thăng chức Nhập Nội tả bộc xạ, kiêm Đông Các đại học sĩ, tước Lâm Giang bá, phụ soạn sách luật lệnh.

Cổng vào di tích Từ đường Lê Trần công thần tộc trên địa bàn thôn Thành Minh (Hải Lịch xưa) xã Xuân Hòa.
Khi Chiêm Thành vượt biển quấy phá phía Nam nước Đại Việt, vua Lê Thánh Tông dẫn theo 26 vạn quân tinh nhuệ đi chinh phạt, trong đó có Lê Hoằng Dục. Với nhiều công lao lập được, khải hoàn trở về, Lê Hoằng Dục được phong Lại bộ Thượng thư kiêm Chưởng lục bộ, Nhập nội tả bộc xạ, Tham tri chính sự, Thái bảo, tước Lâm Giang hầu.
Khi Đại Việt đã dẹp yên được giặc Chiêm Thành thì ở vùng biên giới phía Bắc lại chưa yên. Bọn giặc cỏ người phương Bắc thường cướp bóc ở các địa phương giáp biên, bị quan quân nước Đại Việt ở các trấn đánh dẹp; chúng phải bỏ chạy sang đất nhà Minh để lẩn trốn. Tuy nhiên, giặc cỏ vẫn thường đem quân quấy phá các xứ thuộc châu Tư Lang nước ta, ngang nhiên đốt phá nhà dân, cướp của, giết người. Khi bọn giặc cỏ bị bắt thì quan lại nhà Minh nơi biên ải cậy thế nước lớn, dung túng cho chúng.
Lúc bấy giờ, Lê Hoằng Dục được cử làm Chánh sứ cùng một số quan lại vâng lệnh vua Lê Thánh Tông đi sứ nhà Minh, khi đến vùng biên giới, sứ đoàn bị quan quân nhà Minh bắt giam hòng đe dọa và làm nhục quốc thể. Với sự khôn khéo và bản lĩnh, ông không sợ hãi. “Hoằng Dục một mặt gửi thư cho trấn thủ Quảng Đông, mặt khác tấu cáo về triều đình việc quan địa phương nước Minh ngăn trở sự bang giao của hai nước, mưu cướp cống vật và phạm nhân để phi tang. Chúng sợ không dám làm nhục sứ giả, Hoằng Dục bảo vệ được quốc thể nhưng phải mất 4 tháng sau cống vật và phạm nhân mới được đưa đến kinh đô Bắc quốc. Năm sau, Hoằng Dục được thăng thưởng tước Tung Quận công” (sách Địa chí huyện Thọ Xuân).
Lần đi sứ ấy không chỉ là một chuyến bang giao thông thường mà còn là cuộc đấu trí đầy bản lĩnh để bảo vệ danh dự quốc gia. Trước sự sách nhiễu, gây sức ép của quan lại nhà Minh, Lê Hoằng Dục lựa chọn cách ứng xử mềm dẻo nhưng không nhân nhượng, kiên quyết đấu tranh bằng lý lẽ và luật lệ bang giao giữa hai nước. Chính sự bình tĩnh, khôn khéo ấy đã giúp sứ bộ hoàn thành sứ mệnh, giữ vững quốc thể Đại Việt, đồng thời góp phần củng cố quan hệ hòa hiếu, ổn định biên cương và mở rộng giao thương. Sau chuyến đi này, Lê Hoằng Dục được vua Lê Thánh Tông đặc ban Tiến sĩ cập đệ, đứng đầu tam giáp (sách Danh nhân Thanh Hóa, tập 9).
Không chỉ được biết đến trên lĩnh vực chính trị, quân sự và ngoại giao, Lê Hoằng Dục còn để lại dấu ấn trong đời sống văn hóa đương thời với tư cách một danh sĩ có học vấn uyên thâm.
Theo những ghi chép trong gia phả dòng họ Lê ở đất Hải Lịch xưa (nay là thôn Thành Minh, xã Xuân Hòa), bởi giỏi chữ và tài năng văn chương, Lê Hoằng Dục không chỉ là tướng đánh trận, nhà ngoại giao, mà còn là thành viên hội Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông sáng lập.
Dốc lòng phụng sự trải qua 3 triều vua, sau khi mất Lê Hoằng Dục được truy tặng Phụ quốc tán trị công thần Thái bảo Cường Quốc công, ban tên thụy là Bình Dự. Ông được phong phúc thần, được phối thờ tại đền thờ Bảo Chính vương Lê Văn Linh. Đền thờ đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Ông Lê Văn Sinh, hậu duệ dòng họ Lê ở đất Hải Lịch xưa, nay là thôn Thành Minh, xã Xuân Hòa, chia sẻ niềm tự hào: “Người họ Trần trước đây, sau này là họ Lê, có công lập nên làng Hải Lịch. Tiền nhân Lê Văn Linh, Lê Hoằng Dục... đều là quan đại thần dốc sức phò vua, giúp nước. Đến khi thác đi lại được phong phúc thần che chở cho làng... Dẫu đã nhiều thế kỷ trôi qua, tên tuổi các cụ vẫn được sử sách lưu danh, hậu thế nhắc nhớ”.
Trải hơn năm thế kỷ, tên tuổi Cường Quốc công Lê Hoằng Dục vẫn được hậu thế trân trọng không chỉ bởi công lao phò vua, giúp nước, mà còn bởi học vấn uyên thâm, tài năng văn võ và bản lĩnh ngoại giao. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng sinh động cho truyền thống hiếu học, trọng nghĩa, yêu nước của vùng đất Hải Lịch nói riêng, xứ Thanh nói chung; đồng thời góp thêm một dấu son vào lịch sử triều Lê sơ và truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc.
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách: Địa chí huyện Thọ Xuân, NXB Khoa học Xã hội, 2005; Danh nhân Thanh Hóa tập 9, NXB Thanh Hóa, 2018).
Bài và ảnh: Khánh Lộc
{name} - {time}
-
2026-07-12 16:29:00NSƯT Hoàng Thanh Hải nối nhịp cầu văn hóa cơ sở đến với công chúng
-
2026-07-11 10:27:00Thượng tướng quân Doãn Nỗ
-
2026-07-04 09:48:00Người chiến sĩ xây niềm tin, giữ bình yên trên mặt trận an ninh tôn giáo



![[Thanh Hóa xưa và nay] Viên ngọc xanh giữa đại ngàn Pù Luông](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2628/290d5064633t1800l1-290d5064625t1809.webp)


