(vhds.baothanhhoa.vn) - Những cánh rừng keo, luồng đang trở thành vùng nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến lâm sản ở miền núi Thanh Hóa. Cùng với diện tích rừng trồng ngày càng mở rộng, nhiều cơ sở, nhà máy chế biến được đầu tư, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, đưa sản phẩm lâm sản của xứ Thanh vươn xa.

Cây keo, luồng sau cánh cửa nhà máy

Những cánh rừng keo, luồng đang trở thành vùng nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến lâm sản ở miền núi Thanh Hóa. Cùng với diện tích rừng trồng ngày càng mở rộng, nhiều cơ sở, nhà máy chế biến được đầu tư, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, đưa sản phẩm lâm sản của xứ Thanh vươn xa.

Cây keo, luồng sau cánh cửa nhà máy

Cây luồng được chế biến thành vàng mã xuất khẩu tại HTX chế biến lâm sản sông Mã, xã Hồi Xuân.

Kết nối vùng nguyên liệu vào nhà máy

Ở thôn Xuân Hồng, xã Xuân Bình, hộ trồng keo nhiều nhất là gia đình ông Ngân Văn Quân với gần 20ha. Trung bình mỗi hộ dân trong thôn hiện có từ 1 - 2ha keo. Người dân địa phương bắt đầu chuyển sang trồng keo cách đây hơn 10 năm. Trước đó, phần lớn diện tích đất đồi được sử dụng để trồng mía, sắn nhưng hiệu quả kinh tế thấp, đầu ra bấp bênh.

Hiện Xuân Bình có 6 nhà máy chế biến lâm sản và một số xưởng sản xuất nhỏ lẻ. Ông Vũ Đình Quang, phụ trách thu mua nguyên liệu của Công ty Cổ phần Đầu tư sản xuất và thương mại LHD, đóng tại thôn Bãi Trành, xã Xuân Bình cho biết: Năm 2022, công ty bắt đầu thu mua keo nguyên liệu. Trung bình mỗi tháng đơn vị thu mua từ 5.000 - 10.000 tấn keo nguyên liệu. Sản phẩm sau chế biến gồm: ván ép, gỗ pallet, gỗ ghép thanh, phục vụ sản xuất giấy và xuất khẩu. Công ty đã đầu tư hệ thống máy cưa xẻ, máy băm dăm, dây chuyền sản xuất gỗ ghép thanh và xưởng sấy gỗ.

Theo ông Quang, sự phát triển của vùng nguyên liệu keo giúp doanh nghiệp chủ động nguồn cung phục vụ sản xuất. Công ty tạo việc làm cho khoảng 100 lao động địa phương với mức thu nhập bình quân từ 5 đến hơn 10 triệu đồng/người/tháng tùy theo vị trí công việc.

Ông Trịnh Xuân Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Bình cho biết: Toàn xã có 5.444ha cây lâm nghiệp, trong đó diện tích keo là 3.679,7ha với 1.866 hộ tham gia. Cây keo phù hợp với điều kiện đất đồi nghèo dinh dưỡng, dễ trồng, sinh trưởng nhanh, vốn đầu tư không quá lớn và có chu kỳ khai thác từ 3 - 5 năm. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận bình quân đạt khoảng 30 - 35 triệu đồng/ha. Phát triển cây keo góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ hộ nghèo và nâng cao thu nhập cho người dân miền núi.

Ở xã Tân Thành, những chuyến xe chở keo nối nhau về Nhà máy sản xuất viên nén gỗ thuộc Công ty Cổ phần Năng lượng sinh học Tân Thành. Trong khu nhà xưởng, tiếng máy nghiền, máy sấy hoạt động liên tục, nguyên liệu được thu mua, chế biến thành viên nén gỗ xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.

“Nhà máy chính thức đi vào vận hành từ đầu năm 2026, tạo việc làm cho khoảng 100 lao động địa phương. Đơn vị hiện thu mua trung bình từ 20.000 đến 25.000 tấn nguyên liệu mỗi tháng và xuất khẩu khoảng 10.000 tấn viên nén/tháng. Mỗi năm dự kiến xuất khẩu khoảng 120.000 tấn viên nén”, ông Nguyễn Hùng Tư, quản đốc Công ty Cổ phần Năng lượng sinh học Tân Thành cho biết.

Cây keo, luồng sau cánh cửa nhà máy

Sản phẩm keo sau chế biến tại Công ty Cổ phần Đầu tư sản xuất và thương mại LHD, xã Xuân Bình.

Hiện nay, xã Tân Thành có hơn 5.500ha rừng trồng, trong đó hơn 4.300ha keo và các loại. Những năm gần đây, xã mở rộng diện tích keo cấy mô, thực hiện cấp chứng chỉ rừng FSC, đồng thời từng bước định hướng người dân phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao giá trị kinh tế trên cùng đơn vị diện tích.

Ông Lê Hoàng Cường, Chủ tịch UBND xã Tân Thành cho biết: Trong thời gian qua, UBND xã Tân Thành luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng doanh nghiệp, HTX và hộ kinh doanh phát triển ổn định, hiệu quả. Nhờ đó, hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn cơ bản ổn định, tiêu biểu như Công ty Cổ phần Năng lượng sinh học Tân Thành sản xuất viên nén gỗ xuất khẩu, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.

Đưa sản phẩm tre, luồng vươn xa

Trong những năm qua, tre, luồng đã gắn bó mật thiết với đời sống của đồng bào các dân tộc ở khu vực miền núi, vùng cao Thanh Hóa. Mỗi năm, cây luồng được khai thác, chế biến, trở thành nguồn sinh kế quan trọng cho người dân vùng cao.

Ở miền Tây xứ Thanh, rừng luồng tập trung chủ yếu ở các huyện (cũ) như Quan Hóa, Lang Chánh, Quan Sơn, Thường Xuân... Tiêu biểu, tại xã Đồng Lương, gia đình ông Vi Hồng Nghị, thôn Tân Lập, hiện có hơn 7ha luồng, với sản lượng khai thác khoảng 6.000 cây mỗi năm. Nhờ cây luồng, gia đình ông có kinh tế ổn định, con cái được học hành đầy đủ.

Cây keo, luồng sau cánh cửa nhà máy

Viên nén gỗ từ nguyên liệu keo của Công ty Cổ phần Năng lượng sinh học Tân Thành, xã Tân Thành.

Nhằm giúp người dân sống được từ cây luồng, thời gian qua, các địa phương miền núi Thanh Hóa đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ cải tạo, phục tráng rừng luồng, đồng thời thu hút doanh nghiệp đầu tư xây dựng các điểm thu mua, chế biến tại chỗ. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có gần 60 cơ sở chế biến tre, luồng. Bình quân mỗi năm, Thanh Hóa cung cấp khoảng 60 triệu cây luồng, tương đương 1,6 triệu tấn nguyên liệu, cùng 80.000 tấn nguyên liệu khác phục vụ chế biến, xuất khẩu. Đây là nguồn lực dồi dào để phát triển ngành hàng tre, luồng theo hướng bền vững, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Không chỉ dừng lại ở nguyên liệu thô, luồng được chế biến thành ván ghép, vật liệu xây dựng, đồ gia dụng, giấy...

Bên cạnh các cơ sở sản xuất chế biến lâm sản, các điểm thu mua, sơ chế nhỏ lẻ, đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư theo hướng chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm từ cây tre, luồng. Tiêu biểu như Nhà máy ứng dụng công nghệ cao sản xuất sản phẩm tre luồng và gỗ biến tính của Công ty CP Bamboo King Vina thuộc cụm công nghiệp Bãi Bùi, xã Linh Sơn; Công ty TNHH sản xuất và thương mại BamBoo Vina, xã Hà Trung... góp phần nâng cao giá trị kinh tế. Hiện nay, thị trường xuất khẩu các sản phẩm từ tre, luồng của Thanh Hóa chủ yếu là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, châu Âu và Bắc Mỹ.

Khi vùng nguyên liệu gắn với nhà máy chế biến, giá trị của cây rừng không còn dừng lại ở những chuyến xe chở gỗ, luồng rời khỏi chân đồi. Dăm gỗ, viên nén, gỗ ghép thanh và các sản phẩm từ tre, luồng đang mở thêm những hướng đi cho ngành lâm nghiệp. Phát triển vùng nguyên liệu ổn định, nâng tỷ lệ chế biến sâu và hướng đến sản xuất bền vững sẽ là cách để những cánh rừng tiếp tục mang lại sinh kế lâu dài cho người dân, góp phần phát triển kinh tế khu vực miền núi.

Bài và ảnh: Ngọc Huấn



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]