Kè ơi...
Cây kè có thể đã lạc lõng trong đời sống hôm nay. Sự lạc lõng này không chỉ vấn đề kinh tế mà là một sự “cô đơn” về giá trị. Nhưng kè không “già” đi theo năm tháng...

Cây kè đã từng là sinh kế của người nông dân.
“Đại sứ” của ký ức
Ông Nguyễn Văn Vượng (62 tuổi) - một người bán chổi kè ở thôn Tân Luật, xã Công Chính (huyện Nông Cống cũ). 8 năm trước, ông bắt đầu làm chổi kè để bán. Ngoài ông, trong xã còn thêm vài hộ làm nghề, là ông Triều, ông Từ, ông Thứ Cảnh...
Thật khó hình dung, chổi kè của các ông đi từ làng ra phố và đã được đón nhận như một thức quà quê đặc sản. Riêng ông Vượng, một tuần đi bán 4 chuyến, mỗi chuyến bán khoảng 30 cái. Ông đi nhiều nơi và nhận thấy: “Có lẽ dân tình khoảng 90% vẫn còn thích dùng chổi kè, không chỉ người quê mà ở thành thị mua cũng nhiều. Thậm chí, chổi kè của chúng tôi được đưa cả vào trong miền Nam...”.
Xã Tượng Lĩnh kế bên, ở thôn Trí Phú cũng có ông Lê Văn Trì, bà Lê Thị Côi làm chổi kè để bán. Ông Trì thường làm chổi khi lúa vào mùa thu hoạch. Mỗi vụ mùa, ông làm hơn 100 cái. “Vụ mùa, dùng chổi kè quét lúa, bà con rất thích”, ông Trì nói. “Vụ mùa, bao giờ bán cũng được nhiều. Ngoài ra, chổi kè của gia đình còn đưa cả lên huyện miền núi Quan Sơn cũ cho một số công sở, trường học. Chổi kè quét lá còn gì bằng...”.
Đã thấy ở họ, người làm nghề với niềm vui phơi phới xen những tự hào. Ngược thời gian, xã Tượng Lĩnh, Công Chính là những xã thuộc vùng III, vùng IV huyện Nông Cống trước đây, một vùng được xem là “thủ phủ” của cây kè. Qua đi năm tháng, tưởng như cây kè đã chìm vào quên lãng và chổi kè bị coi là lạc lõng nhưng may mắn thay, người làm chổi kè đã “đánh thức” cả vùng ký ức. “Vì sao chúng tôi lại nhẫn nại với nghề làm chổi?”, ông Lê Văn Trì, ở thôn Trí Phú, xã Tượng Lĩnh bỗng tự vấn, rồi trong mắt ông đã lại ánh niềm vui. Ông cười, nói: “Chúng tôi tin vào độ bền của kè, tin vào sự sạch sẽ của nhịp chổi quê. Tin rằng, chổi kè sẽ không bị bỏ rơi và hơn thế, mỗi chiếc chổi bán ra là một lần tên kè được nhắc lại”.

Chổi kè được xem là “tia hy vọng” cuối cùng để giữ lại “mùi ký ức”.
Vậy nên, những người làm chổi kè đi bán, với họ, đó không đơn giản là cuộc mưu sinh mà hơn thế, họ chính là gạch nối giữa quá khứ - hiện tại, như ông Nguyễn Văn Vượng ở thôn Tân Luật, xã Công Chính đã rất đỗi tự hào, rằng: “Chúng tôi là “đại sứ” của ký ức”.
Tìm về một thời “vàng son”
Đến giờ, nhiều người dân ở các xã thuộc vùng III, vùng IV huyện Nông Cống trước đây vẫn còn giữ nguyên cảm xúc khi nhớ về “một thời đã qua” của cây kè. Với họ, cây kè là “nhân chứng lịch sử”, là... “vàng xanh”.
Sau cuộc cải cách ruộng đất năm 1954, những “rừng” kè bạt ngàn của địa chủ ở vùng III, vùng IV huyện Nông Cống nói riêng đã được chia cho dân nghèo (còn gọi kè quả thực). Với người nông dân, được chia một vài gốc kè hay một vạt kè lúc đó, là sự đổi đời. Bởi, công dụng “vạn năng” của kè mang lại nhiều lợi ích. Lá kè lợp nhà, làm chổi, nón, còn thân kè làm cốp pha... Ông Nguyễn Trung Quyền (72 tuổi) ở thôn Cự Phú, xã Công Chính nhớ lại: “Cây kè còn là sinh kế, giúp bao phận người. Nhà tôi khi đó được chia 100 gốc kè. Cứ khoảng 1,5 năm, kè cho 1 lứa. Bán 1 lứa kè, ăn được 5,6 tháng”. Còn ông Phạm Đình Yên, hàng xóm của ông Quyền bỗng lại bồi hồi: “Thời đó, nhờ có cây kè, tôi mới cưới được vợ”.
Nhưng để trèo lên chặt lá mang đi bán, cần có thợ. Thợ chặt kè ngày đó cũng có thu nhập kha khá. Tuy nhiên, trèo chặt kè là cả nghệ thuật. “Họ chuyền từ cây nọ sang cây kia bằng luồng, nhanh thoăn thoắt nhưng cũng nguy hiểm”, ông Nguyễn Văn Hội, chuyên viên Phòng Văn hóa - Xã hội, UBND xã Công Chính nói. “Còn nhớ, ông ngoại tôi trèo chặt kè rớt xuống đống rơm mấy lần, khọm cả lưng. Ông Cẩm thợ giỏi là thế cũng rớt mấy lần...”.

Chiều quê thanh bình bên những rặng kè.
Trong ký ức của ông Hội, vài chục năm về trước, ông được ăn cơm “tập thể” vài lần nhờ... lợp kè. Đấy là câu chuyện về tinh thần đoàn kết, tương hỗ lẫn nhau của bà con trong thôn. Ông Hội nhớ lại: “Ngày đó, nhà nào làm nhà, lợp mái, cả làng cùng xúm lại. Làm xong, mọi người quây quần ăn cơm, rất tình cảm”.
Nhớ quá khứ của cây kè là nhớ về một thời “vàng son”. Kè của hiện tại, “vàng son” đâu còn. “Thời thế, thế thời”, mái kè xưa đã được thay bằng mái ngói, tôn lạnh, cốp pha xưa giờ cũng đã thay bằng sắt thép. Đất trồng kè nhường lại cho hoa màu... Vậy nên, đã vắng dần dáng kè.
“Vắng” không có nghĩa là “hết”. Ở xã Tượng Lĩnh, Công Chính,...vẫn còn đó những bãi kè, dãy kè hàng chục năm, hàng trăm năm tuổi. Kè ngoài đồng, kè trong vườn dân... Nhớ sự phấn chấn của Trưởng thôn Trí Phú, xã Tượng Lĩnh ông Lâm Quang Cảnh: “Kè cũng là “hồn quê”. Sức sống của kè rất mãnh liệt. Bão gió mấy cũng không thể quật ngã”. Còn ông Lê Anh Thế, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội, UBND xã Tượng Lĩnh cho biết: “Mới đây, xã đã trồng một dãy kè bên bờ sông Lịch Sử để giữ lại nét đẹp của cây kè bản địa, một loại cây đã rất gắn bó với người dân địa phương”.
... Đã có một số người ngạc nhiên khi tôi đặt chân về đất kè. Phải chăng, tôi quá lạc hậu khi đi tìm lại những điều đã cũ hay đang cố chấp níu giữ một vẻ đẹp mà chính những người sở hữu cũng đã và đang muốn buông tay? May thay, bản thân đã được an ủi khi gặp những “đại sứ” của ký ức - những người làm chổi kè, để nhận ra một điều: Chiếc chổi được xem là “tia hy vọng” cuối cùng, dù mong manh nhưng người làm nghề vẫn lặng lẽ, kiên trì để giữ lại “mùi ký ức"...
Bài và ảnh: Bằng An
{name} - {time}
-
2026-04-19 06:01:00Ngày này năm xưa (19/4): Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam
-
2026-04-18 06:49:00Ngày này năm xưa (18/4): Lần đầu tiên Việt Nam xuất hiện tại một diễn đàn quốc tế lớn với tư cách là một quốc gia độc lập và có chủ quyền
-
2026-04-17 13:28:00Trên vùng đất Xuân Thái




![[Thanh Hóa xưa và nay] Chợ xưa và nay: Một góc nhìn về sự đổi thay của xứ Thanh](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2613/280d4094931t11037l1-476238015-651605.webp)

