(vhds.baothanhhoa.vn) - Giữa khói lửa chiến tranh, có những con người đi qua cái chết bằng lòng quả cảm, người xông lên giữa làn đạn, người âm thầm giữ mạch sống nơi tuyến lửa... Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng trong ký ức của những người lính hôm nay chiến trường vẫn vẹn nguyên với máu, nước mắt, sự hy sinh và một niềm tin không gì lay chuyển về ngày đất nước hòa bình, thống nhất.

Khúc tráng ca của người lính (Bài 3): Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính

Giữa khói lửa chiến tranh, có những con người đi qua cái chết bằng lòng quả cảm, người xông lên giữa làn đạn, người âm thầm giữ mạch sống nơi tuyến lửa... Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng trong ký ức của những người lính hôm nay chiến trường vẫn vẹn nguyên với máu, nước mắt, sự hy sinh và một niềm tin không gì lay chuyển về ngày đất nước hòa bình, thống nhất.

Khúc tráng ca của người lính (Bài 3): Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính

Người trẻ lắng lắng nghe cựu chiến binh Hà Văn Việt kể chuyện chiến trường xưa.

Trong căn nhà nhỏ ở thôn Sát, xã Bá Thước, câu chuyện đời lính của cựu chiến binh Hà Văn Việt khiến ai nghe cũng xúc động. Đó là những chiến thắng lịch sử của dân tộc mà ông vinh dự được có mặt.

Lúc đó, năm 1971, chàng trai 17 tuổi Hà Văn Việt bất ngờ nhận tin báo nhập ngũ. Tin báo đến nhanh khiến gia đình không kịp làm vía - một nghi lễ quan trọng của người Thái để cầu mong bình an cho con em trước khi rời bản. Không có những chuẩn bị chu đáo, không có thời gian bịn rịn, ông bước vào quân ngũ với tâm thế của một người lính thực thụ, mang theo niềm tin giản dị mà lớn lao về trách nhiệm với đất nước.

Sau thời gian huấn luyện, ông nhận nhiệm vụ tại Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 36, Sư đoàn 306. Đến tháng 4/1972, ông trực tiếp tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị, nơi được nhắc đến như một trong những chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Những ngày tháng chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị, anh em chúng tôi hiểu rằng, mỗi tấc đất là một cuộc giằng co sinh tử, mỗi bước tiến đều phải trả giá bằng máu.
Cựu chiến binh Hà Văn Việt

Khúc tráng ca của người lính (Bài 3): Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính

Cựu chiến binh Hà Văn Việt kể lại những trận chiến tại Thành cổ Quảng Trị.

Trong đó, ký ức về một trận đánh tại đồi Mít vẫn còn in đậm trong tâm trí. Khi ấy, ông là tiểu đội trưởng, cùng đồng đội tham gia trinh sát trước giờ nổ súng. Trong quá trình đó, một người đồng đội đã hy sinh. Khi quay lại để đưa thi thể về, họ phát hiện kẻ địch đã buộc lựu đạn vào thi thể, một cái bẫy tàn nhẫn nhằm gây thêm thương vong. “Chúng tôi đứng đó rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về. Đó là một trong những khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính”, ông nhớ lại và giọng trầm xuống.

Ngay sau đó, tiểu đội của ông phối hợp cùng các mũi khác tấn công, tiêu diệt gọn một trung đội địch gồm khoảng 30 tên. Trận đánh thắng lợi, nhưng cái giá phải trả không hề nhỏ. Chiến thắng ấy đã giúp ông được kết nạp Đảng. Niềm tự hào đó đến nay ông vẫn khắc ghi bằng việc giữ cẩn thận tờ quyết định kết nạp đã nhoè hết chữ. Cũng chính sự anh dũng và mưu lược trong chiến đấu đã giúp ông được trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều thành tích khác.

Khúc tráng ca của người lính (Bài 3): Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính

Đi kèm trong câu chuyện là những “vật chứng” sống là những Huân chương chiến công, quyết định kết nạp Đảng, Bằng khen...

Năm 1975, trong một lần thực hiện nhiệm vụ tại Thanh Hóa, ông xin phép về cưới vợ. Đám cưới diễn ra giản dị, vội vã và ông chỉ kịp ở bên vợ hai ngày trước khi tiếp tục lên đường vào Nam. Hai ngày ngắn ngủi ấy, sau này ông nói là ký ức ấm áp hiếm hoi giữa những năm tháng chiến tranh dài dằng dặc. Trở lại chiến trường, ông tiếp tục tham gia nhiều trận đánh ác liệt.

Những vết thương từ bom văng, đạn sượt là điều gần như quen thuộc. Không có điều kiện chăm sóc y tế đầy đủ, ông và đồng đội tự băng bó cho nhau, rồi lại tiếp tục chiến đấu. Có những lúc máu còn chưa kịp khô nhưng nhiệm vụ thì không thể chờ.

Khúc tráng ca của người lính (Bài 3): Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính

Đây là niềm tự hào cũng là tài sản lớn nhất của cựu chiến binh Hà Văn Việt khi đi qua những trận chiến lịch sử.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, đơn vị của ông nhận nhiệm vụ đánh vào Bộ Tổng Tham mưu của chính quyền Sài Gòn. Trên đường tiến vào trung tâm, sự chống trả của địch vẫn rất quyết liệt, thêm nhiều đồng đội của ông ngã xuống. Mỗi mất mát lại khiến ý chí của ông và đồng đội them quyết tâm. Rồi khoảnh khắc lịch sử cũng đến. Ông cùng đồng đội tiến vào Bộ Tổng Tham mưu, hoàn thành nhiệm vụ, chứng kiến lá cờ Giải phóng tung bay trên nóc Bộ Tổng Tham mưu.

Cảm giác đó, cả đời tôi không thể nào quên. Tôi và đồng đội ôm nhau trong mừng rỡ và những giọt nước mắt cho bao hy sinh, khổ cực lặng lẽ rơi trong hạnh phúc.
Cựu chiến binh Hà Văn Việt

Khúc tráng ca của người lính (Bài 3): Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính

Những kỷ vật dù đã mờ nhoè nhưng vẫn được cựu chiến binh Hà Văn Việt giữ gìn cẩn thận, trân quý.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 2, làm nhiệm vụ tại Tuyên Quang. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra năm 1979, ông lại một lần nữa lên đường, tiếp tục chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Những năm tháng ấy nối tiếp những năm tháng trước đó, như một mạch liền không đứt của đời lính.

Rời quân ngũ, ông trở về quê hương, nhưng tinh thần của người lính vẫn theo ông trong từng việc làm. Suốt 26 năm, ông đảm nhiệm vai trò Bí thư chi bộ thôn,tiếp tục cống hiến cho cộng đồng. Từ những việc nhỏ trong đời sống đến việc xây dựng khối đoàn kết trong dân, ông luôn giữ cho mình sự tận tâm như khi còn đứng trong quân ngũ.

Trong ký ức của những người lính vượt Trường Sơn năm xưa, âm thanh ám ảnh nhất thường là tiếng rít của phản lực hay tiếng bom rải thảm. Nhưng với cựu chiến binh Lê Quang Hữu, phường Hạc Thành, ký ức ấy còn được định danh bằng tiếng kim loại va vào nhau chát chúa, mùi dầu mỡ khét lẹt trộn lẫn với đất đỏ và cảm giác lạnh lẽo khi áp lưng xuống bùn dưới gầm xe tăng. Ở chiến trường khốc liệt ấy, ông không cầm súng. Vũ khí của ông là cờ-lê, mỏ lết và một bản lĩnh thép để trụ vững dưới gầm những khối sắt” giữa tọa độ lửa.

Khúc tráng ca của người lính (Bài 3): Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính

Cựu chiến binh Lê Quang Hữu (người thứ 4 từ phải sang trái) cùng các đồng đội trong Hội Truyền thống Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa ôn lại ký ức một thời hoa lửa.

Ở tuổi ngoài 80, ông Lê Quang Hữu vẫn giữ được dáng người rắn rỏi, lưng thẳng, bước đi chắc chắn và giọng nói vang sảng. Tháng 2/1965, chàng thanh niên 23 tuổi Lê Quang Hữu nhập ngũ, mang theo hành trang là kiến thức kỹ thuật được đào tạo bài bản và một trái tim rạo rực lý tưởng.

Tháng 12/1970, ông được điều vào Bộ Tư lệnh 559, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội sửa chữa xe tăng, xe xích. Đơn vị của ông hoạt động dọc trục Đường số 9 - Nam Lào, một địa danh mà chỉ cần nhắc đến, người lính Trường Sơn nào cũng thấy tim mình thắt lại. Đại đội của ông đóng quân gần các binh trạm 32, 39 - những cái tên nằm trong danh sách mục tiêu ưu tiên hủy diệt của không quân Mỹ.

Lúc đó không kịp sợ chết, chỉ sợ xe không chạy được, hàng không vào được miền Nam thì anh em trong đó khổ lắm.
Cựu chiến binh Lê Quang Hữu

Đặc thù của xe tăng là trọng lượng lớn, động cơ rầm rập và vệt xích cày nát mặt đường, rất dễ bị máy bay trinh sát phát hiện. Ban ngày, địch bay rà soát từng dấu vết hoạt động nhỏ nhất, từ một vết dầu loang, vệt xích mới đến ánh kim loại phản sáng từ chiếc mỏ lết... Đêm xuống, bom trút xuống theo đúng những tọa độ đã ghi nhận. Áp lực của ông Hữu và đồng đội bấy giờ là phải “hồi sinh” những khối thép ấy trong thời gian ngắn nhất. Bởi xe nằm lại một giờ là “mạch máu” giao thông tắc nghẽn một giờ và một chiếc xe dừng lại chính là một mục tiêu cố định cho đợt oanh tạc tiếp theo.

Nghề thợ sửa xe chiến trường là cuộc “đánh đu” nghẹt thở với tử thần. Xe hỏng ở đâu, thợ phải có mặt ở đó. Có khi là giữa một con dốc dựng đứng vừa bị bom xới tơi, khi lại ở một khúc cua ngặt nghèo sát mép vực hay trên nền đất vẫn còn bốc mùi thuốc súng. Việc sửa chữa chủ yếu diễn ra vào ban đêm trong điều kiện thiếu thốn nghiệt ngã.

Ông Hữu nhớ lại những đêm trắng dưới gầm xe tăng T-54 hay xe thiết giáp lội nước PT-76. Trong điều kiện phụ tùng chính hãng khan hiếm, để cứu một chiếc xe đang nằm chắn ngang đường, ông và các chiến sĩ phải dùng phương pháp lấy phụ tùng xe cháy nuôi xe hỏng.

Có những lần anh em chúng tôi phải dầm mình trong bùn lầy, dùng tay trần lần tìm từng con ốc, từng mắt xích dưới ánh đèn pin bọc vải yếu ớt. Có những lúc tay trơn vì dầu mỡ, mắt căng ra trong bóng tối nhưng chỉ cần nghe tiếng động cơ nổ trở lại, mọi mệt mỏi đều tan biến.
Cựu chiến binh Lê Quang Hữu

Khúc tráng ca của người lính (Bài 3): Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính

Cựu chiến binh Lê Quang Hữu - người Đại đội trưởng đại đội sửa chữa xe tăng năm xưa.

Nguy hiểm nhất là khi xử lý những hỏng hóc nặng dưới gầm xe. Giữa không gian chật hẹp đặc quánh mùi dầu máy, máy bay địch có thể ập đến bất cứ lúc nào. Lần đó, khi ông đang nằm dưới gầm tháo mắt xích bị kẹt do trúng mảnh pháo, người đồng đội nằm cạnh làm nhiệm vụ giữ đèn pin và chuyền dụng cụ. Giữa lúc đôi tay ông đang gồng lên siết ốc, tiếng rít của phản lực bỗng xé toạc màn đêm. Không kịp thoát khỏi “cũi sắt” nặng hàng chục tấn, ông chỉ kịp ép mình xuống nền bùn lạnh, hai tay bám chặt vào trục xe. Ngay sau đó là những tiếng nổ vang rền, đất đá tràn vào gầm, đổ dồn lên vai. Sức ép của bom bóp nghẹt lồng ngực, tai ù đặc. Khi khói tản, ông lùi ra ngoài, người phủ đầy cát bụi. Chiếc xe vẫn còn đó, bánh xích đã vào vị trí nhưng chỗ người đồng đội vừa nằm cạnh chỉ còn là một khoảng trống tàn khốc. Ông Hữu lặng người: “Lúc đó không kịp sợ chết, chỉ sợ xe không chạy được, hàng không vào được miền Nam thì anh em trong đó khổ lắm”.

Ở Trường Sơn, sau mỗi đợt oanh tạc, việc đầu tiên của người chỉ huy là kiểm quân số và phương tiện. Với một đại đội kỹ thuật, thợ máy lành nghề là tài sản vô giá, bởi đào tạo được một người giữa chiến trường khó gấp nhiều lần ở hậu phương. Nhưng hiếm khi sau một đêm trực chiến, quân số được bảo toàn. “Có những người đi cùng mình mấy năm, cùng ngủ dưới gầm xe, cùng chia nhau mẩu lương khô... nhưng đến lúc họ nằm xuống, mình lại không nhận ra nơi họ yên nghỉ giữa đại ngàn này nữa,” giọng ông Hữu chùng xuống.

Rời Trường Sơn năm 1975, ông Lê Quang Hữu mang theo bản lĩnh của người thợ máy vào công cuộc kiến thiết thời bình cho đến lúc nghỉ hưu. Dù cuộc sống hiện tại đầy ắp sự an yên nhưng những tọa độ lửa dọc Đường 9 - Nam Lào vẫn luôn hiển hiện trong tâm trí người đại đội trưởng năm xưa. Nhắc về quá khứ oanh liệt, ông từ chối mọi lời xưng tụng lớn lao, chỉ bình thản xem mình là một người thợ đã hoàn thành sứ mệnh với Tổ quốc trong những năm tháng cam go nhất.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng với ông Lê Quang Hữu, Hà Văn Việt... và hàng nghìn cựu binh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì ký ức về một thời xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước và sự khốc liệt của chiến tranh mai mãi chưa bao giờ khép lại. Trong trái tim mỗi người lính hôm nay vẫn vẹn nguyên một nỗi niềm mang tên đồng đội, những người đã mãi mãi nằm lại giữa chiến trường xưa để đổi lấy hòa bình, độc lập cho dân tộc.

Nhóm PV Chuyên đề

Bài 4: Nơi đồng đội nằm lại


Nhóm PV Chuyên đề

 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]