Người trẻ viết tiếp câu chuyện lịch sử (Bài cuối): Khi giá trị lịch sử trở thành động lực phát triển
Trong dòng chảy của kỷ nguyên số, cách tiếp cận lịch sử tại Thanh Hóa đang có nhiều thay đổi. Di sản hiện diện trong không gian trưng bày và từng bước đi vào đời sống thông qua công nghệ cùng các hình thức khai thác mới. Đây là hướng đi phù hợp trong bài toán bảo tồn gắn với phát triển của địa phương.

Học sinh trải nghiệm công nghệ thực tế ảo (VR) tại Bảo tàng Thanh Hóa, tiếp cận hiện vật và không gian lịch sử theo cách trực quan.
Nghị quyết số 58-NQ/TW ngày 5/8/2020 của Bộ Chính trị về “xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định văn hóa và du lịch là những lĩnh vực quan trọng trong phát triển của địa phương. Trên cơ sở đó, hoạt động bảo tồn di sản được gắn với khai thác và phát huy giá trị.
Trong khi đó, Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 2/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030”, đặt ra mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa trên phạm vi cả nước. Từ định hướng này, nhiều đơn vị đã triển khai số hóa di sản và từng bước đổi mới cách tiếp cận, khai thác giá trị trong thực tiễn.
Một sự chuyển động âm thầm đang diễn ra phía sau không gian trưng bày của Bảo tàng Thanh Hóa. Bên trong các phòng lưu trữ là kho hiện vật với hơn 30.000 đơn vị đang được bảo quản. Trong khi đó, không gian trưng bày hiện giới thiệu khoảng 3.000 hiện vật, tương đương gần 1/10 tổng số. Phần lớn hiện vật hiện vẫn được lưu giữ trong kho. Từ thực tế này, việc xây dựng dữ liệu số trở thành hướng mở để đưa hiện vật đến gần hơn với công chúng. Những năm qua, Bảo tàng Thanh Hóa đã số hóa hàng trăm hiện vật tiêu biểu, từng bước chuyển các tư liệu lưu giữ sang dạng dữ liệu có thể khai thác và giới thiệu rộng rãi hơn.
Đáng chú ý là việc ứng dụng công nghệ 3D đối với 3 bảo vật Quốc gia, gồm: Kiếm ngắn Núi Nưa, Trống đồng Cẩm Giang I và Vạc đồng Cẩm Thủy. Công nghệ quét 3D kết hợp chụp ảnh độ phân giải cao cho phép tái hiện khá đầy đủ hình dáng, hoa văn của hiện vật, phục vụ cả bảo tồn và giới thiệu. Trước đây, người xem quan sát hiện vật qua lớp kính với góc nhìn cố định. Hiện nay, dữ liệu số giúp người xem tiếp cận hiện vật ở nhiều góc độ chi tiết hơn.

Du khách nghe thuyết minh tại khu vực cây “ổi cười” trong khuôn viên Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh.
Từ không gian bảo tàng, cách tiếp cận di sản tiếp tục được mở rộng tại các điểm thực địa. Việc ứng dụng công nghệ tại Thành Nhà Hồ được triển khai từng bước chắc chắn, trước hết từ xây dựng dữ liệu. Hồ sơ di tích gồm bản vẽ, ảnh tư liệu và thông tin khảo cổ được số hóa để phục vụ quản lý và nghiên cứu. Một số hạng mục kiến trúc được ghi hình, chụp ảnh 360 độ và đưa lên các nền tảng trực tuyến, giúp người quan tâm tìm hiểu không gian di tích từ xa. Cách làm này góp phần mở rộng khả năng tiếp cận, đặc biệt đối với học sinh, sinh viên và du khách ở xa.
Hệ thống thuyết minh tự động tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh đã được đưa vào phục vụ tại nhiều điểm tham quan, giúp du khách chủ động tiếp cận thông tin. Trong buổi tham quan ngoại khóa, em Nguyễn Minh Anh, học sinh lớp 11, Trường THPT Lam Sơn, dừng lại khá lâu trước khu chính điện. Em sử dụng điện thoại để quét mã và nghe thuyết minh về vua Lê Thái Tổ. “Trước đây em học qua sách nên nhiều chi tiết khó hình dung. Khi đến đây, em vừa quan sát không gian thực tế vừa nghe giải thích, nên hiểu rõ và nhớ lâu hơn”, Nguyễn Minh Anh chia sẻ.

Đoàn viên thanh niên phường Sầm Sơn trải nghiệm quét mã QR để truy cập thông tin, góp phần lan tỏa cách tiếp cận di sản bằng công nghệ số.
Việc ứng dụng công nghệ đã và đang giúp phường Sầm Sơn mở rộng cách khai thác di sản lịch sử - văn hóa. Hệ thống mã QR được triển khai tại một số di tích, như đền Độc Cước, đền Cô Tiên, Hòn Trống Mái, giúp du khách chủ động tìm hiểu thông tin ngay tại điểm tham quan. Đoàn viên thanh niên phường là lực lượng trực tiếp thu thập dữ liệu, ghi hình và biên tập nội dung, đồng thời đối chiếu với các nhân chứng địa phương để hoàn thiện thông tin. Anh Nguyễn Hữu Tuấn, Bí thư Đoàn phường Sầm Sơn, cho biết: “Chúng tôi trực tiếp xuống hiện trường, thu thập thông tin và đối chiếu với các nhân chứng địa phương để bảo đảm nội dung chính xác. Mỗi mã QR là một câu chuyện được trình bày theo cách dễ tiếp cận hơn với người xem”.
Sự kết hợp giữa không gian thực và công cụ số giúp người tham quan chủ động tiếp cận thông tin ngay từng điểm di tích, từ đó hình thành trải nghiệm cá nhân trong hành trình tìm hiểu di sản. Khi hệ thống mã QR được đưa vào sử dụng tại một số điểm di tích, thời gian dừng chân của du khách được kéo dài hơn, góp phần nâng cao trải nghiệm tham quan và tạo điều kiện cho các dịch vụ xung quanh phát triển.
Từ nền tảng bảo tồn và số hóa, việc khai thác giá trị di sản đang được mở rộng theo hướng gắn với đời sống và phát triển kinh tế. Cụm di tích Hàm Rồng – sông Mã được khai thác theo hướng gắn với cảnh quan và đời sống ven sông. Trên nền tảng các điểm như cầu Hàm Rồng, đồi C4, núi Ngọc... một số sản phẩm trải nghiệm đã được hình thành, kết nối tham quan di tích với không gian văn hóa sông nước.

Cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã, nhìn từ trên cao – không gian kết nối giữa chứng tích lịch sử và cảnh quan du lịch hiện nay.
Các tour theo tuyến “ngược xuôi sông Mã” đưa du khách đi dọc dòng sông, kết hợp nghe hò sông Mã, tìm hiểu ký ức chiến tranh tại các điểm cao và trải nghiệm sinh hoạt của người dân ven sông. Một số chương trình thu hút lượng khách đáng kể mỗi năm, cho thấy sức hút của cách tiếp cận di sản gắn với không gian sống. Từ các hành trình này, trải nghiệm của du khách được mở rộng từ tham quan sang tương tác trực tiếp với đời sống địa phương. Họ tham gia các hoạt động như nghe hò, thưởng thức ẩm thực và giao lưu với người dân. Sự tham gia của cộng đồng trong các dịch vụ này góp phần tạo thêm nguồn thu, đồng thời cải thiện sinh kế cho các hộ dân quanh khu vực di tích.
Song song với các trải nghiệm thực địa, hoạt động số hóa tiếp tục được mở rộng sang các sản phẩm địa phương, tạo nên sự liên kết giữa thông tin tại di tích và hàng hóa trong đời sống. Tại một số cơ sở sản xuất, mã QR được gắn trực tiếp trên bao bì, cho phép người dùng truy cập thông tin về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và câu chuyện văn hóa gắn với sản phẩm.
Sâm Báo, loại dược liệu gắn với vùng đất Vĩnh Lộc là một ví dụ. Sản phẩm được tổ chức lại theo hướng chuẩn hóa quy trình và từng bước đưa lên nền tảng số. Khi quét mã QR, người dùng có thể theo dõi thông tin từ khâu trồng, thu hái đến chế biến, qua đó hiểu rõ hơn giá trị của sản phẩm. Việc kết nối các sản phẩm địa phương với tuyến tham quan di tích như Thành Nhà Hồ - Lam Kinh góp phần mở rộng đầu ra và gia tăng giá trị kinh tế.
Ở góc độ kinh tế, cách làm này tạo điều kiện để người dân tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị du lịch. Tại xã Thạch Lập, Phạm Việt Hoàng, Bí thư Chi đoàn thôn Lương Thiện, lựa chọn cây sâm Báo để phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Mô hình kết hợp trồng sâm với nuôi ong mật dưới tán rừng, vừa tận dụng điều kiện tự nhiên, vừa nâng cao giá trị trên cùng diện tích. Cùng với sản xuất, anh từng bước hoàn thiện khâu sơ chế, đóng gói và xây dựng nhận diện sản phẩm, gắn với việc cung cấp thông tin rõ ràng cho người tiêu dùng. Khi sản phẩm được đưa vào các điểm du lịch, đầu ra được mở rộng, đồng thời nâng cao mức độ tin cậy trên thị trường. Anh Hoàng cho biết: “Nếu chỉ bán nguyên liệu thô, giá trị mang lại không cao. Khi sản phẩm có thông tin rõ ràng và gắn với câu chuyện của vùng đất, người mua dễ tiếp cận hơn, đầu ra cũng ổn định hơn”.

Du khách tham quan, chụp ảnh tại khu vườn hoa thuộc khu vực động Tiên Sơn.
Từ thực tế này, sản phẩm địa phương không dừng ở tiêu thụ đơn lẻ mà từng bước tham gia vào chuỗi dịch vụ du lịch. Người dân tham gia từ khâu trồng, chăm sóc đến chế biến và cung ứng sản phẩm, qua đó tạo thêm nguồn thu và nâng cao giá trị kinh tế trên chính vùng đất quê hương. Khi di sản được kết nối với đời sống, giá trị được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển cụ thể cho mỗi địa phương.
Năm 2025, Thanh Hóa đón hơn 16,2 triệu lượt khách du lịch, đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Các điểm đến gắn với giá trị lịch sử - văn hóa tiếp tục giữ vai trò nền tảng trong cơ cấu sản phẩm du lịch của tỉnh. Có thể thấy, định hướng phát triển du lịch di sản đang được đặt ra theo hướng khai thác chiều sâu. Công nghệ số và lực lượng lao động trẻ trở thành yếu tố quan trọng, giúp mở rộng khả năng tiếp cận và tăng sự tham gia của cộng đồng.
Tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc đã và đang được người trẻ viết tiếp bằng những việc làm, hành động cụ thể. Bằng việc học qua sách vở, trên hành trình về nguồn, gặp gỡ với nhân chứng sống không chỉ giúp lịch sử trở nên chân thực, mà còn khơi dậy sự đồng cảm và biết ơn trong mỗi người. Đáng chú ý, lịch sử hôm nay đang được kể lại bằng ngôn ngữ của người trẻ gần gũi, linh hoạt, sinh động nhưng vẫn giữ được sự tôn trọng cần thiết, góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc một cách tự nhiên, không áp đặt, để mỗi người tự cảm, tự hiểu và tự lựa chọn cách gắn bó với quê hương. Chuyên đề khép lại, nhưng hành trình của người trẻ xứ Thanh với lịch sử vẫn đang tiếp diễn. Mỗi việc làm hôm nay, nếu được nuôi dưỡng từ hiểu biết và tự hào của thế hệ trẻ đều có thể trở thành những câu chuyện đẹp, xúc động. Khi những giá trị lịch sử được gìn giữ và “đánh thức” sẽ trở thành nguồn lực phát triển, lịch sử không còn nằm yên trong quá khứ, mà trở thành một phần của hiện tại và tương lai.
Tăng Thúy
{name} - {time}
-
2026-04-24 15:51:00Chuyện làng – Chuyện phố: Vlog chữa lành – Phía sau những thước phim
-
2026-04-24 15:19:00Sẵn sàng phương án đảm bảo an ninh trật tự cho du lịch biển Hải Hòa
-
2026-04-24 15:14:00Giữ màu xanh núi Trường Lệ trong mùa du lịch






![[Thanh Hóa xưa và nay] Cửa biển Lạch Trường – nơi giao hòa giữa chiều sâu lịch sử và nhịp sống hiện đại](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2615/280d0202115t1798l1-screenshot-11.webp)