Nguyễn Xuân Luật và 25 năm cày ải với Từ điển Việt - Mường Thanh Hóa
12.800 từ vựng tiếng Mường trong cuốn sách “Từ điển Việt - Mường Thanh Hóa” có thể đáp ứng nhu cầu tra cứu của người học về mọi lĩnh vực của đời sống. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là công sức của tác giả Nguyễn Xuân Luật một người yêu tiếng Mường và dành cả đời cho đứa con tinh thần này.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Luật.
Sinh năm 1948 ở làng Phù Hưng, xã Yên Thái (nay là xã Yên Trường), đến khi bước vào cấp THPT (1964-1967), ông theo gia đình lên định cư tại xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Thủy (nay là xã Cẩm Thạch). Từ một người Kinh chính hiệu, ông dần tiếp xúc và làm thân với những bạn học người dân tộc Mường. Cơ duyên với người Mường và tiếng Mường bắt đầu đơn giản như vậy. Đặc biệt, khi nghe nhà thơ Minh Hiệu trình bày chuyên đề ngoại khóa về truyện thơ Mường, tình yêu văn hóa Mường đã len lỏi trong lòng chàng trai trẻ. Vì thế, bước chân vào Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội), ông đã chọn ngành Ngôn ngữ học.
GS.TS Mai Ngọc Chừ kể lại: "Ngay năm thứ nhất, ở cùng với anh Nguyễn Xuân Luật, sinh viên năm thứ 3, tôi đã được nghe anh Luật đọc cho truyện thơ của dân tộc Mường như Nàng Nga - Hai Mối, Nàng Ờm và chàng Bồng Hương, Út Lót- Hồ Liêu... Anh thuộc và đọc hay đến mức tôi mê mẩn theo giọng lên bổng xuống trầm của anh".
Tình yêu ấy xuyên suốt, khiến chàng trai người Kinh không ngại ngần chọn đề tài “Từ vựng tiếng Mường Thanh Hóa” để làm luận văn tốt nghiệp đại học.
Thời gian đằng đẵng, nhưng bản thân ông cũng chưa bao giờ nghĩ đến ngày sẽ làm từ điển. Kể cả khi tốt nghiệp đại học, về Ty Văn hóa Ninh Bình, thường xuyên qua lại vùng Nho Quan, đi và tìm hiểu cộng đồng người Mường ở đây. Chỉ đơn giản là vì yêu người Mường, yêu tiếng Mường, chứ ông chưa có kế hoạch gì cụ thể.
Đến năm 1982, trở về Thanh Hóa, được phân công vào tổ miền núi theo dõi văn hóa miền núi, đặc biệt là văn hóa Mường của Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), ông như hổ được thả về rừng. Ông đi khắp các bản mường, khai thác dàn dựng lại trò diễn dân gian, các loại xường, mo, các loại hình dân ca khác. Ông chính là người làm thư ký và trực tiếp thực hiện 12 di sản văn hóa phi vật thể.
Bẵng đi thời gian dài, năm 1995, một đoàn tổ chức phi chính phủ đến gặp và hỏi ông thông tin về việc làm từ điển. Như một nhánh cây được ủ lâu ngày khi đã bén rễ thì sẽ bật chồi nhanh, Nguyễn Xuân Luật, từ đó nảy ra ý định làm từ điển. Ông cặm cụi và tỉ mẩn làm, để rồi nhiều lần tham vấn ý kiến của các thầy giáo ở Viện Ngôn ngữ học, và nhận được những lời khuyên. “Cố gắng lên, đây mới là anh em họ của từ điển”; “Lần trước mới là họ hàng xa, giờ là họ hàng gần chứ chưa phải là từ điển, cố gắng tiếp nhé” ... Những lời khuyên ấy, nhắc nhớ ông rằng, cần phải bỏ nhiều thời gian và công sức cho việc sưu tầm, đối chiếu. Ông đi vay 2 chỉ vàng và lên đường ra Hòa Bình (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) 6 tháng lấy thêm từ đối chiếu của người Mường Bi. “Tốn tiền đã đành, vì còn tính được, chứ chẳng thể tính hết công sức bỏ ra", nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Luật chia sẻ.
Hành trình dài ấy không ít lần ông thấy nản. Thậm chí trong gia cảnh nghèo, lại có những lời đề nghị mua lại bản thảo với giá rất cao, thậm chí lên tới 3.000 đô la. Số tiền ấy cách đây 20 năm là rất lớn, có thể mua được vài mảnh đất. Nhưng rồi ông đành thở dài từ chối, bởi bao công sức từ khi học đến những tháng ngày chăm chỉ gặp hết người này, người khác, vừa đi làm vừa lấy tư liệu. Còn chưa kể những lần phải mời các cụ ở Cẩm Bình, ở Ngọc Lặc xuống nhà để lấy tài liệu, đối chứng từ ngữ.
Lấy xong từ đối chứng đã vất vả rồi, nhưng đến khi đưa từ vào các ngữ cảnh khác nhau lại càng khó hơn. Ví dụ, từ “góp” trong tiếng Mường đọc là Cỏp có nghĩa là tương thân tương ái, góp từng ít một, góp nhặt, nhưng đến khi đi nghe hát xường cây bông thì lại thấy còn có từ “cu nhu cóp nhóp” có nghĩa là con nào cũng góp phần. Như vậy, chỉ với 1 từ nhưng khi đưa vào từng ngữ cảnh với các câu minh họa thì có thể cho ra 7 - 8 câu. “Càng làm càng thấy công việc của mình thăm thẳm, không biết khi nào xong. Như bạn bè vẫn nói với tôi: làm từ điển khác gì nghề khổ sai”, ông Luật nói.
Nhưng nếu chỉ là nghề khổ sai thì ai mà đam mê mãi được? Trong quá trình làm từ điển, ông còn lưu trữ được cả văn hóa Mường. Người Mường Thanh Hóa quần cư dọc hai bờ sông Mã, sông Bưởi, sông Âm – nơi có các triền đồi núi thấp, các thung lũng bằng phẳng và các nguồn nước để dựng nhà và canh tác. Chính vì cư trú trên một địa bàn rộng lớn thống nhất có cửa ngõ lên vùng cao và cũng có đường về đồng bằng tiếp xúc với người Việt, nên người Mường sống và sinh hoạt theo từng mường, và cũng chính nơi đây họ đã bảo tồn và phát triển văn hóa, tiếng nói của mình. Ông lựa chọn Mường Khô vì đây là mường lớn, lang đạo lớn, lại nằm gọn trong vùng đồng bằng thung lũng lớn, một bên là dãy núi Đèn trùng điệp, một bên là dòng sông Mã, ít có sự xáo trộn về nhân chủng cũng như tiếng nói. Tiếng nói ở đây dễ nghe dễ hiểu, phát âm nhẹ. Ngoài ra, ông còn chọn tiếng Mường Bi (Hòa Bình) để thêm từ đối dịch.
Nói như GS.TS Mai Ngọc Chừ: Qua đây, văn hóa Mường được làm sáng tỏ, được “phơi bày” ra trước mắt người đọc bằng những lời giải thích rất mộc mạc nhưng rất hiển ngôn. Bởi, ngôn ngữ của một tộc người là phương tiện quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất, để lưu giữ văn hóa của tộc người.
Sự cẩn trọng là yếu tố quyết định thành công của người làm từ điển. Dù không phải là người Mường, dù chỉ là dân ngụ cư trên đất người Mường, nhưng với cách làm bài bản của một nhà nghiên cứu chuyên sâu, một chuyên gia về ngôn ngữ học mà “Từ điển Việt – Mường Thanh Hóa” ra đời là được đón nhận. “Người phải học mới làm được”, GS.TS Mai Ngọc Chừ khẳng định.
Để chỉ rõ cấu trúc tiếng Mường Khô, ông đã lập hệ thống phụ âm. Theo khảo sát của ông, tiếng Mường Khô có 24 phụ âm đầu và cuối, trong đó có 4 phụ âm trong vốn từ vay mượn; có hệ thống nguyên âm gồm nguyên âm đơn, nguyên âm kép; hệ thống thanh điệu, ngoài 5 thanh điệu cơ bản còn nhiều thanh điệu kép hoặc những thanh điệu không xác định rõ ràng, làm phong phú thêm âm điệu giọng nói; hệ thống từ vựng gồm các lớp từ Mường cổ, từ thuần Mường, từ vay mượn; có cấu trúc câu tương ứng với ngữ pháp tiếng Việt.
Ông lặng lẽ lựa và đối chiếu từng chữ cho đến khi hoàn thành. Chỉ riêng chép tay đã phải mất hơn 6 tháng, rồi thuê người ta đánh máy mất 4 tháng, gửi ra nhà xuất bản để in mất gần 8 tháng vì sửa đi sửa lại 4 lần. Một con số thống kê chỉ với vài ba dòng nhưng là công sức của người làm nghiên cứu. “Từ bản thảo ban đầu đến khi sách được xuất bản là một trời một vực”, những lời ông nói mà tôi nhìn thấy lấp lánh niềm vui.
“Một phần nhờ bạn bè khích bác mà làm. Chẳng ai đặt hàng, chẳng ai cho tiền, thích mà làm, không cần vội vàng”. Vì thế để cuốn sách được ra đời thông dòng bén giọt, ông đã đánh đổi bằng 25 năm cày ải một mình.
“Với ước mong bảo tồn, lưu giữ hệ thống từ vựng Mường Thanh Hóa được nhiều nhất, năm 2023, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã dành kinh phí để xuất bản cuốn sách, và năm 2025, với sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa, Nhà xuất bản Thanh Hóa lại tiếp tục cho xuất bản cuốn “Từ điển Việt - Mường Thanh Hóa” sau khi đã bổ sung và chỉnh sửa. 1.565 cuốn và được chuyển về các cơ sở (nhà trường, thư viện các xã) trong phạm vi toàn tỉnh”, ông Luật cho biết. Nếu không kiên trì chắt lọc hồn cốt văn hóa Mường, không yêu ngôn ngữ Mường, có lẽ chẳng bao giờ ông có thể nâng niu trên tay mình một công trình đồ sộ như “Từ điển Việt - Mường Thanh Hóa”.
Khi tôi ra về ông còn khoe rằng, cuốn Sắc màu văn hóa xứ Thanh với khoảng 400 trang đang được ông chuốt lại để gửi đến Nhà xuất bản. Hy vọng rằng chỉ trong thời gian ngắn, tôi và những bạn đọc yêu văn hóa dân tộc sẽ được thêm một lần hiểu về lễ hội Poồn Pông, Tục làm vía kéo xi, Trò Ma của người Mường; lễ hội Cầu ngư, Lễ hội làng Trịnh Xá, Chèo chải làng Yên Hoành của người Kinh; Tục cấp sắc của người Dao... Hồn cốt xứ Thanh neo đậu ở các giá trị văn hóa, và những người như nhà nghiên cứu, sưu tầm Nguyễn Xuân Luật đã góp phần giữ lại những điều xưa cũ, những ẩn tàng còn chờ người khám phá.
Bài và ảnh: Kiều Huyền
{name} - {time}
-
2026-05-07 08:13:00Người Thanh Hóa ở Điện Biên
-
2026-05-06 15:32:00Sáng mãi “Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên Phủ”
-
2026-05-01 16:55:00Khúc tráng ca của người lính (Bài cuối): Người trở về từ những “cơn mưa đỏ”
Hành trình từ người chiến sĩ Điện Biên đến Anh hùng Lao động
Khúc tráng ca của người lính (Bài 4): Nơi đồng đội nằm lại
Khúc tráng ca của người lính (Bài 2): Khúc hát mở đường
Khúc tráng ca của người lính (Bài 1): Chúng tôi không chỉ chiến đấu bằng súng đạn, mà còn bằng niềm tin sau lưng mình là cả Tổ quốc



![[Thanh Hóa xưa và nay] - Những giếng cổ mang dấu ấn Champa trên đất xứ Thanh](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2617/279d0215718t1800l1-nuoc-gieng-tron1.webp)


