(vhds.baothanhhoa.vn) - Trịnh Sâm (1739-1782), là vị chúa thứ 9 trên 12 vị chúa họ Trịnh với công lao lãnh đạo đất nước được lịch sử đánh giá là người có công cải cách hành chính, bình trị nội chiến và có nhiều sáng tác tôn vinh danh thắng đất nước...

Tĩnh đô vương Trịnh Sâm

Trịnh Sâm (1739-1782), là vị chúa thứ 9 trên 12 vị chúa họ Trịnh với công lao lãnh đạo đất nước được lịch sử đánh giá là người có công cải cách hành chính, bình trị nội chiến và có nhiều sáng tác tôn vinh danh thắng đất nước...

Tĩnh đô vương Trịnh Sâm

Phủ Trịnh đang trong giai đoạn trùng tu tôn tạo nhiều hạng mục.

Là con trưởng Minh đô vương Trịnh Doanh, từ nhỏ Trịnh Sâm đã là người thông minh, quyết đoán. Ngay sau khi lên ngôi (năm 1767), ông định rõ thể lệ kiện tụng, về việc người đương sự kêu xin xét lại, cho phép người nào thấy bản án xử lý không đúng có thể xin xử lại, nếu xét lại vẫn chưa tỏ rõ được lý lẽ thì cho phép người đương sự đánh mõ tâu bày.

Những năm đầu cai trị, ông chính thức hoàn thành công cuộc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa, sửa sang nền chính trị và tiến hành Nam chinh. Năm 1769, chúa Trịnh Sâm sai Đoàn Nguyễn Phục đánh bại quân khởi nghĩa nông dân của Hoàng Công Toản (cha là Hoàng Công Chất vừa qua đời) tại vùng núi phía tây bắc. Năm 1770, ông lại dẹp được cánh quân khởi nghĩa cát cứ vùng Trấn Ninh suốt 30 năm của hoàng thân Lê Duy Mật, buộc Lê Duy Mật tự tử.

Năm 1774, ông cử Thống tướng Hoàng Ngũ Phúc, Bùi Thế Đạt làm phó tướng đem quân Nam chinh. Đến ngày 29/1/1775, quân Trịnh đánh vào kinh đô của họ Nguyễn ở Phú Xuân. Chúa Nguyễn dùng thuyền chạy trốn ra biển vào Quảng Nam. Từ đấy, quân Bắc Hà chỉ còn đối thủ là Tây Sơn.

Sau sự kiện ở Thuận Hóa, chúa Trịnh đã giành khỏi tay chúa Nguyễn một vùng đất rộng lớn. Về võ công thì Trịnh Sâm làm được điều mà các chúa Trịnh nổi tiếng là giỏi trước đây như Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Doanh không làm nổi là vượt sông Gianh đánh chiếm tận đô thành của chúa Nguyễn.

Nhận xét về sự nghiệp chính trị của Trịnh Sâm, Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí có viết: “Chúa cho phép tắc các triều trước là nhỏ hẹp, nên việc chính thường tự quyết đoán, phần nhiều không theo lệ cũ; cầm giữ chính quyền, cất nhắc người tài, văn trị sửa sang ở trong, vũ công chống chọi ở ngoài... chính giáo lừng lẫy khắp nơi, bốn cõi yên ổn, công lao rực rỡ hơn các đời trước”.

Chúa Trịnh Sâm luôn quan tâm đến việc tuyển chọn hiền tài, nhờ vậy góp phần rất lớn trong việc chấn hưng văn hóa, giáo dục. Trong 16 năm tại vị, chúa Trịnh Sâm mở 7 khoa thi, chọn được nhiều nhân tài có tiếng tăm. Đây cũng là thời kỳ văn hóa nghệ thuật nước nhà phát triển mạnh mẽ, xã hội thịnh trị, dân chúng yên bình. Thời Trịnh Sâm có các nhân tài về chính trị và văn chương như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Khản, Bùi Huy Bích, Hồ Sĩ Đống, Phạm Nguyễn Du, Hoàng Đình Bảo... Tất cả đã giúp Trịnh Sâm điều hành chính sự quốc gia tạo nên một xã hội tương đối yên ổn và phát triển về văn hóa, văn học.

Ở ngôi chúa từ năm 1767 đến năm 1782, Trịnh Sâm không chỉ thể hiện “võ lược để khẳng định quyền lực của bản thân và dòng họ, mà còn là “văn tài” để lại nhiều tác phẩm quý giá cho hậu thế. Từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến Ninh Bình, Nghệ An..., có biết bao bài thơ khắc đá (thạch thi) của chúa Trịnh Sâm để lại cho muôn đời. Chỉ riêng ở Thanh Hóa, thông qua những cuộc tuần du kinh lý, khảo sát sự kiện của ông như Đại Việt sử ký tục biên từng chép: “Xem núi sông, coi trấn sở, xét quan lại, thăm hỏi ân tình đến Nhân dân...” mà bao dòng chữ hiện lên trên những phiến đá thật mềm mại và đầy cảm xúc. Đó là bài thơ “Ngự chế đề Từ Thức động” khắc trên vách động Từ Thức năm 1771; là những bài thơ đề trên vách núi Vân Hoàn hay trước cửa biển Thần Phù; động Bạch Á, núi Chích Trợ...; là 4 chữ “Thanh kỳ khả ái” được ông đề năm Canh Dần (1770) trên khối đá tự nhiên ở núi Xuân Đài, gần động Hồ Công nhằm ca ngợi xứ Thanh xinh đẹp, đáng yêu.

Trịnh Sâm còn là một vị chúa có nhiều cung tần vào loại nhất trong các chúa Trịnh. Theo cuốn “Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam” thống kê thì ông có tới 400 cung tần, mỹ nữ chuyên lo việc hầu hạ. Đặc biệt là sự sủng ái quá mức của Trịnh Sâm đối với Đặng Thị Huệ - một người đàn bà đầy tham vọng và xảo trá... là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ cơ nghiệp của họ Trịnh.

Tĩnh đô vương Trịnh Sâm

Khu di tích Phủ Trịnh - nơi thờ 12 chúa Trịnh ở xã Biện Thượng.

Lịch sử có cách đi riêng. Cho đến bây giờ, những công trạng của các đời chúa Trịnh vẫn chưa được trở về với đúng thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa. Các chúa Trịnh đã tạo nên một thể chế chính trị hết sức độc đáo trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, chính quyền vừa có cung vua, vừa có phủ chúa, cạnh tranh nhau về quyền lưu nhưng không tiêu diệt lẫn nhau, dựa vào nhau để cùng song song tồn tại và phát triển. Công lao to lớn nhất của các chúa Trịnh được lịch sử ghi nhận là đã đóng góp quyết định cho sự nghiệp trung hưng nhà Lê, ngoài ra còn dẹp nhà Mạc, thống nhất phần lớn lãnh thổ Bắc Hà và ổn định xã hội sau thời kỳ loạn lạc. Tuy nhiên, càng về sau, ở các đời chúa Trịnh không chỉ có nội chiến giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, mà còn xảy ra nhiều vụ việc nội chiến ngay trong phủ chúa tranh giành quyền lực, giết hại lẫn nhau do nghi kỵ chủ yếu xoay quanh mối lo phản chúa.

Chúng tôi đến thăm Khu di tích Phủ Trịnh (xã Biện Thượng) - hành dinh thứ 2 của nhà Trịnh sau Phủ Liêu ở Thăng Long, vốn là vương phủ lớn nhất xứ Thanh một thời, có diện tích hàng chục mẫu, chia làm nhiều khu vực với nhiều dinh thự lớn. Giữa không gian linh thiêng, Phủ Trịnh gợi nhớ về quyền uy của một dòng họ hiển hách. Gần 250 năm kể từ ngày chúa Trịnh Sâm băng hà, hậu thế đã có cái nhìn công tâm hơn trước công trạng cũng như những “thói hư tật xấu” của ông.

Trải qua thời gian, nơi đây theo quy hoạch chi tiết sẽ gồm: Khu tôn tạo và phát huy giá trị di tích với các khu phủ từ, khu trưng bày bổ sung, khu lễ hội, khu quản lý và khu cây xanh, cảnh quan... Hy vọng rằng trong tương lai không xa, Phủ Trịnh cùng với Nghè Vẹt, đền thờ Thái tể Vinh Quốc công Hoàng Đình Ái và những câu chuyện về chúa Trịnh Sâm sẽ là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, viết lại câu chuyện về dòng họ Trịnh với những bài học còn được lưu truyền mãi trong hậu thế.

Bài và ảnh: Lê Hòa



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]