(vhds.baothanhhoa.vn) - Trong những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc, đất và người xứ Thanh không chỉ dốc sức người, sức của cho tiền tuyến, mà còn là trận địa diễn ra những giao tranh ác liệt. Để bảo vệ quê hương, đất nước, biết bao người đã ngã xuống đất mẹ, bao người đã mất đi một phần xương máu... Đi qua thời gian, những địa danh, công trình được dựng xây... đã và đang trở thành điểm đến - “địa chỉ đỏ” âm thầm “kể chuyện” lịch sử.

Uống nước nhớ nguồn - mạch ngầm chảy mãi (Bài 2): Những “địa chỉ” đỏ

Trong những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc, đất và người xứ Thanh không chỉ dốc sức người, sức của cho tiền tuyến, mà còn là trận địa diễn ra những giao tranh ác liệt. Để bảo vệ quê hương, đất nước, biết bao người đã ngã xuống đất mẹ, bao người đã mất đi một phần xương máu... Đi qua thời gian, những địa danh, công trình được dựng xây... đã và đang trở thành điểm đến - “địa chỉ đỏ” âm thầm “kể chuyện” lịch sử.

Uống nước nhớ nguồn - mạch ngầm chảy mãi (Bài 2): Những “địa chỉ” đỏ

Trong những ngày tháng Bảy lịch sử, người Việt lại tìm về các “địa chỉ đỏ” để dâng hương, tưởng nhớ các Anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc.

Khi núi sông hóa thành lịch sử

“Sông Mã anh hùng, Hàm Rồng bất tử” là tựa bài viết trong cuốn sách Hùng thiêng sông núi Hàm Rồng của cố nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ. Đó cũng là “chứng nhân” khẳng định truyền thống anh hùng của đất và người quê Thanh trong kháng chiến vệ quốc.

Thực hiện lời kêu gọi kháng chiến của Bác Hồ, đồng thời nêu cao khẩu hiệu “tiêu thổ kháng chiến” nhằm chặn đứng con đường vận tải của thực dân Pháp, tháng 3/1947, sau tiếng nổ long trời của khối bộc phá lớn, cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã bị đánh sập. Kháng chiến thành công, nhiệm vụ khôi phục lại các tuyến giao thông huyết mạch trong cả nước được đặt ra, trong đó có việc xây dựng cầu Hàm Rồng.

Sau thời gian dài thăm dò, khảo sát, tháng 11/1962, cầu Hàm Rồng được khởi công xây dựng. Ròng rã vượt khó, với sự vào cuộc của đội ngũ chuyên gia, kỹ sư và công nhân giỏi nghề, bằng tài năng và sự dũng cảm, làm việc bất kể đêm ngày, vào đúng ngày sinh nhật Bác Hồ (19/5/1964), tiếng còi của chuyến tàu đầu tiên chạy từ Hà Nội vào Vinh qua cầu Hàm Rồng đã vang lên.

Tuy nhiên, với âm mưu thôn tính, chia cắt đất nước ta, đế quốc Mỹ lên kế hoạch ném bom miền Bắc. Nhằm ngăn chặn, cắt đứt sự chi viện cho miền Nam, mục tiêu của giặc Mỹ trong hai cuộc leo thang bắn phá miền Bắc là các công trình giao thông. Kẻ địch xác định cầu Hàm Rồng là “đầu mút của khu vực cán xoong”, bởi vậy chúng không ngừng sử dụng không quân ném bom phá hoại.

Trong những năm tháng ấy, cây cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã được xây dựng bởi ý chí, niềm tin và khát vọng của Nhân dân ta đã oằn mình chống chịu bom đạn kẻ địch. Đối đầu với sức mạnh kẻ xâm lược, Hàm Rồng trở thành một trong những trận địa - tuyến lửa ác liệt. Chiến thắng Hàm Rồng ngày 3,4/4/1965 đã mở ra trang sử “Hàm Rồng quyết thắng” vô cùng vẻ vang.

Trong những ngày tháng ấy, để bảo vệ cầu Hàm Rồng, cao điểm 54 (tức đồi C4) trên núi Hàm Rồng là một trong những “chốt” giữ cực kỳ quan trọng. Cao điểm 54 nằm ở phía Tây Bắc cầu Hàm Rồng, đây là trận địa lý tưởng cho pháo 57 phản công máy bay kẻ địch bổ nhào ném bom cầu Hàm Rồng. Tại đây, Đại đội 4 pháo cao xạ Hàm Rồng đã “đánh vỗ mặt” kẻ thù.

Nhận thấy mối nguy hiểm từ trận địa Đại đội 4 trên cao điểm 54, giặc Mỹ đã quay ra đánh trận địa trước khi không kích vào cầu. Câu chuyện về khẩu đội trưởng Nguyễn Văn Điền bị 11 vết thương, trong đó có một vết thương ở bụng, anh đã lấy cờ chỉ huy bịt vết thương để tiếp tục chỉ huy khẩu đội chiến đấu, rồi cả những pháo thủ bị thương nhưng không rời vị trí; ngày 3/9/1967, địch điều 2 tốp máy bay không kích vào trận địa pháo khiến 11 pháo thủ hy sinh, nhiều chiến sĩ khác bị thương. Trong đau thương, các chiến sĩ vẫn kiên cường. Câu nói “Bị thương nặng không kêu ca, bị thương nhẹ không rời vị trí”, không chỉ là khẩu hiệu mà trở thành hành động ở khắp các hầm pháo. Khẩu hiệu “Thà gục trên mâm pháo quyết không để cầu gục” được ra đời trên cao điểm 54...

Với tinh thần chiến đấu kiên cường, quyết thắng, Đại đội 4 đã “chốt” trên cao điểm 54 núi Hàm Rồng gần 10 năm, lập nên những chiến công vô cùng vẻ vang, được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Cũng bởi bị kẻ địch xác định là vị trí chiến lược quan trọng, “yết hầu” giao thông, mục tiêu tấn công nên trên núi Hàm Rồng, bên bờ sông Mã trong những năm tháng vệ quốc kiên cường ấy, những mất mát, hy sinh thật khó nói hết bằng lời. Và sông Mã, núi Hàm Rồng, cầu Hàm Rồng không chỉ còn là những địa danh, công trình, mà đã hóa thân thành “ký ức” lịch sử.

Những hy sinh hóa thành bất tử

Mùa mưa năm 1972, nước sông Mã dâng cao. Trước đó do bom đạn kẻ thù dội xuống khiến đê sông Mã bị tàn phá nghiêm trọng, nguy cơ vỡ đê gây lụt lội hiện hữu. Trong tình hình ấy, để đảm bảo tuyến giao thông huyết mạch phục vụ chiến trường miền Nam và phòng chống lũ lụt cho cả khu vực, một lực lượng khẩn cấp được huy động cho nhiệm vụ bồi đắp đoạn đê xung yếu từ Nam Ngạn đến Hàm Rồng.

Uống nước nhớ nguồn - mạch ngầm chảy mãi (Bài 2): Những “địa chỉ” đỏ

Công trường đắp đê Nam sông Mã năm 1972 được tái hiện trong Khu tưởng niệm giáo viên, học sinh hy sinh trên công trường đê Nam sông Mã.

Sáng ngày 14/6/1972, tại vị trí đắp đê sông Mã, khi gần 2.000 người có mặt ở công trường đắp đê làm nhiệm vụ thì máy bay Mỹ bất ngờ xuất hiện, kẻ địch tàn nhẫn thả bom tới tấp. Chỉ trong chốc lát, công trường xây dựng bỗng biến thành chiến trường loang lổ máu. 64 thầy cô giáo, học sinh của Trường Y sĩ và Sư phạm, dân công đã ngã xuống đất mẹ. Phần nhiều trong đó là những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi, chứa chan khát vọng cống hiến, hoài bão, ước mơ... Nhưng tất cả đã dang dở. Họ nằm xuống, bên sông Mã anh hùng.

Chiến tranh lùi xa, công trường đắp đê sông Mã ngày nào đã trở thành khoảng lặng bình yên. Năm 2024, Khu tưởng niệm giáo viên, học sinh hy sinh trên công trường đê Nam sông Mã ngày 14/6/1972 đã được khởi công xây dựng và hoàn thành vào đầu năm 2025. Công trình không chỉ là “chứng nhân” lưu giữ một thời đạn bom ác liệt, là tấm lòng tri ân của hậu thế với cha anh đã ngã xuống, mà còn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ.

Tọa lạc bên sóng nước sông Mã anh hùng, tượng đài cao 18m với những “gương mặt” người nhiều biểu cảm khiến người ngước nhìn lặng lòng... Bên trong khu tưởng niệm, công trường đắp đê năm xưa được “tái hiện” lại và nổi bật là những bức tượng mô phỏng giáo sinh đang dốc sức làm việc. Hình ảnh ấy gợi lên bao niềm xúc động.

Cũng bên bờ Nam sông Mã, Nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng là một khoảng lặng. Nơi đây là chốn yên nghỉ của hơn 2.000 anh hùng liệt sĩ đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiều liệt sĩ đã dừng lại cuộc đời mãi mãi ở tuổi đôi mươi.

Thăm Nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng những ngày tháng 7, giữa những bước chân người đi, tiếng “trò chuyện” rất khẽ, tôi bất giác nhớ đến những vần thơ trong bài “Khúc bảy” của Thanh Thảo: “... Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc)/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”. Phải rồi, khi Tổ quốc lâm nguy, nếu ai cũng “tiếc đời mình” thì liệu hôm nay, có chăng một đất nước Việt Nam với dải non sông gấm vóc vẹn toàn?!

Trong Nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng, trên mỗi mộ chí không chỉ có tên tuổi, quê quán mà còn có biểu tượng ngôi sao vàng 5 cánh và lá cờ đỏ sao vàng. Những biểu tượng như một sự khẳng định chắc chắn, dẫu đi qua tháng năm, đất nước, Nhân dân ta luôn biết ơn những người đã ngã xuống vì Tổ quốc. Đạo lý uống nước nhớ nguồn là truyền thống, mạch ngầm mãi chảy...

Bài và ảnh: Khánh Lộc



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]