(vhds.baothanhhoa.vn) - Bản người Thái những ngày cuối năm chìm trong một màn sương mờ ảo, giăng mắc trên những rặng đào rừng đang chúm chím môi hồng. Gió lùa qua khe liếp, mang theo cái lạnh sắt se của vùng cao, nhưng trong căn nhà sàn của chị Hoa, hơi ấm đã bắt đầu tỏa ra từ bếp lửa trung tâm - linh hồn của cả gia đình. Chị Hoa ngồi đó, đối diện với đống lá chuối rừng đã được đồ qua hơi nước dẻo dai, xanh mướt. Một mình chị giữa không gian tĩnh lặng, nhưng trong tâm tưởng, một thế giới ồn ào ký ức đang cuộn chảy.

Bánh Ít

Bản người Thái những ngày cuối năm chìm trong một màn sương mờ ảo, giăng mắc trên những rặng đào rừng đang chúm chím môi hồng. Gió lùa qua khe liếp, mang theo cái lạnh sắt se của vùng cao, nhưng trong căn nhà sàn của chị Hoa, hơi ấm đã bắt đầu tỏa ra từ bếp lửa trung tâm - linh hồn của cả gia đình. Chị Hoa ngồi đó, đối diện với đống lá chuối rừng đã được đồ qua hơi nước dẻo dai, xanh mướt. Một mình chị giữa không gian tĩnh lặng, nhưng trong tâm tưởng, một thế giới ồn ào ký ức đang cuộn chảy.

Bánh Ít

Bánh Ít của dân tộc Thái trắng.

Ngược dòng thời gian về ba mươi năm trước, khi ấy Hoa còn là cô bé có đôi bím tóc đuôi nheo, lăng xăng chạy quanh chân mẹ. Với Hoa ngày đó, Tết không chỉ là quần áo mới hay tiếng tính tẩu rộn ràng, mà còn là nỗi “ám ảnh” mang tên Bánh Ít.

“Hoa ơi, dậy đồ lá chuối với mẹ nào!” - tiếng mẹ gọi từ lúc gà chưa gáy sáng lần thứ hai.

Hoa lẹt quẹt đôi dép tổ ong, vừa đi vừa dụi mắt, miệng không ngừng lẩm bẩm những lời hờn dỗi. Trong quan niệm của một đứa trẻ, việc gói bánh Ít là một cực hình. Trong khi đám bạn ngoài bản đang tung tăng đánh yến, ném còn, thì Hoa phải ngồi bệt dưới sàn gỗ, tay chân lấm lem bột nếp.

Bánh Ít của người Thái trắng không giống bánh chưng của người Kinh ở sự vuông vức, công phu. Nó mang vẻ đẹp giản dị, khiêm nhường. Nguyên liệu chính là gạo nếp nương – thứ ngọc thực của đại ngàn, được ngâm kỹ, ráo nước và xay thành bột mịn. Thứ bột ấy phải đem hòa quyện với mật mía - loại mật đặc quánh, màu nâu thẫm như hổ phách, mang vị ngọt lịm của nắng gió vùng cao.

-Mẹ ơi, con mỏi tay quá! Sao mình không mua bánh làm sẵn cho nhanh?

Hoa vừa nhào bột vừa than vãn. Đôi bàn tay nhỏ bé của chị lúc đó đỏ ửng vì phải dùng sức nén, trộn cho mật và bột quyện chặt vào nhau đến khi dẻo quánh, dính tay đến phát cáu.

Mẹ chị, người đàn bà Thái với chiếc khăn piêu quấn khéo léo, chỉ mỉm cười hiền hậu. Đôi bàn tay mẹ thô ráp vì sương gió nhưng khi chạm vào bột lại nhuần nhuyễn như một nghệ nhân. Mẹ bảo: "Bánh ngoài chợ là bánh của thiên hạ, còn bánh mình làm là bánh của tổ tiên. Con nhìn xem, nếp này là nhà mình tự trồng trên rẫy, mật này là nhà mình tự ép. Nếu con không bỏ cái tâm vào, tổ tiên về ăn Tết sẽ thấy trống trải lắm".

Lúc đó, Hoa chỉ biết bĩu môi. Chị thấy việc phải lau từng chiếc lá chuối, đồ nó vừa chín tới, rồi phải khéo léo bẻ góc bánh sao cho tròn trịa thành một cặp là một gánh nặng. Chị làm vì sợ mẹ mắng, làm vì đó là “lễ nghi” bắt buộc để có bánh đặt lên mâm cúng Tết Xịp Xí (14/4 âm lịch - Tết cổ truyền của dân tộc Thái trước đây), và giờ là Tết Nguyên Đán. Chị chưa bao giờ hiểu được tại sao mẹ lại trân trọng từng vệt mật mía dính trên thành chậu đến thế.

Năm tháng trôi đi như dòng suối chảy qua khe đá. Hoa trưởng thành, rời bản làng đi học rồi lập nghiệp ở phố thị. Những mùa Tết xa nhà, chị ăn đủ thứ sơn hào hải vị, những chiếc bánh chưng gói sẵn vuông vức bán đầy vỉa hè. Nhưng lạ thay, giữa những ồn ào ấy, có đôi lúc chị bỗng thèm khát cái mùi nồng nồng của lá chuối đồ, cái vị ngọt lịm đến khé cổ của mật mía trộn nếp nương.

Rồi mẹ đi. Mẹ ra đi vào một chiều đông mây mù bao phủ đỉnh núi. Căn nhà sàn từ đó trở nên thênh thang và lạnh lẽo.

Năm nay, khi đã bước sang ngưỡng cửa của tuổi bốn mươi, chị Hoa quyết định gác lại mọi công việc ở phố để về quê ăn Tết sớm. Chị muốn tự tay nhóm lại ngọn lửa bếp lò đã nguội lạnh bấy lâu. Chị muốn tự tay làm lại món bánh Ít mà ngày xưa chị từng xem là “nợ”.

Bên bếp lửa đỏ rực, chị Hoa bắt đầu công đoạn nhào bột. Khi tay chị chạm vào khối bột nếp nương mát lạnh, cảm xúc bỗng chốc vỡ òa. Chị nhận ra, để có được một khối bột dẻo mịn, mẹ đã phải tốn bao nhiêu sức lực trong những năm tháng tuổi già. Ngày xưa chị chê mệt, chị đâu biết rằng mẹ còn mệt hơn gấp bội, nhưng mẹ chưa bao giờ than vãn lấy một lời.

Chị đổ mật mía vào. Màu nâu của mật thấm dần vào sắc trắng của nếp, tạo nên một sự hòa quyện tuyệt đẹp. Mùi thơm của mật mía gặp hơi ấm bếp lửa bốc lên, ngọt lịm, ấm áp. Chị chợt khóc. Những giọt nước mắt rơi xuống mẹt bột, chị vội vàng lau đi vì sợ làm hỏng mẻ bánh.

"Mẹ ơi, con đang làm bánh đây..." - Chị thầm thì vào hư không.

Chị bắt đầu gói. Từng động tác bẻ góc lá chuối ngày xưa chị làm một cách cẩu thả, giờ đây chị thực hiện một cách nâng niu. Chị nhận ra cái dẻo của lá chuối đã qua hơi nước chính là sự ẩn dụ cho sự mềm mỏng, nhẫn nại của người phụ nữ Thái. Nếu lá không đồ dẻo, gói bánh sẽ rách. Nếu lòng người không kiên nhẫn, bánh sẽ không ngon.

Chị đặt những chiếc bánh vào chõ đồ xôi. Tiếng nước sôi ùng ục bên dưới như tiếng thời gian đang gõ nhịp. Khói bếp bắt đầu len lỏi qua những kẽ sàn gỗ, bay lên mái nhà lá cọ. Mùi thơm đặc trưng ấy – mùi của nếp nương thơm lừng, mùi mật mía nồng nàn – bắt đầu chiếm lĩnh không gian.

Trong làn khói mờ ảo, chị Hoa như thấy bóng dáng mẹ đang ngồi phía đối diện. Mẹ không nói gì, chỉ nhìn chị với ánh mắt bao dung, đôi tay mẹ vẫn thoăn thoắt xếp những chiếc bánh vào chõ. Chị chợt nhận ra, món bánh này không chỉ để ăn, không chỉ để cúng. Nó là sợi dây vô hình kết nối các thế hệ. Mỗi chiếc bánh là một lời nhắn nhủ của cha ông về sự cần cù, về lòng biết ơn đối với mảnh đất rẫy đã nuôi sống con người.

Khi bánh chín, chị khéo léo dùng đôi đũa cả nhấc từng chiếc ra mẹt. Khói bốc lên nghi ngút, mang theo mùi vị của ký ức. Chị bóc một chiếc bánh còn nóng hổi. Lớp lá chuối róc ra, để lộ phần vỏ bánh màu nâu bóng, mịn màng và dẻo quánh.

Chị cắn một miếng nhỏ. Vị ngọt của mật mía không gắt mà dịu dàng, hòa quyện với cái dẻo, cái bùi của nếp nương thơm lừng. Vị ngon ấy khiến sống mũi chị cay xè. Đây chính là vị của tuổi thơ, vị của những ngày khốn khó nhưng ấm áp tình thâm. Chị nhớ những lần mẹ nhường cho chị miếng bánh to nhất, nhớ những lúc hai mẹ con vừa đồ bánh vừa kể chuyện về những mùa Tết Xịp Xí xa xưa khi bản làng còn hoang sơ.

Giờ đây, dù không còn mẹ bên cạnh, nhưng qua chiếc bánh Ít, chị cảm nhận được hơi ấm của mẹ vẫn hiện hữu trong từng thớ bánh, trong từng hơi thở của ngôi nhà sàn. Chị không còn thấy việc làm bánh là một trách nhiệm nặng nề nữa. Ngược lại, đó là một sự đặc ân – đặc ân được trở về làm con gái của mẹ, được giữ gìn ngọn lửa truyền thống của dân tộc Thái Trắng giữa dòng đời hối hả.

Đêm giao thừa, trên mâm lễ dâng lên tổ tiên, những chiếc bánh Ít được xếp thành hình tháp, tỏa hương thơm ngào ngạt. Chị Hoa đứng trước bàn thờ, thành tâm khấn nguyện. Chị biết, ở một nơi nào đó trên mây ngàn, mẹ chị chắc chắn đang mỉm cười.

Cầm Bá Phượng


Cầm Bá Phượng

 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]