(vhds.baothanhhoa.vn) - Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, có nhiều ngôi làng đóng góp lớn về nhân lực, lại có những gia đình nhiều người cùng tham gia khởi nghĩa. Trong đó không thể không nhắc tới làng Hương Nhượng và gia đình Tư Quốc công Lê Khả Lãng. Cả 5 người con trai của ông đều có công bình Ngô mở nước, trong đó có hai người ở bậc thượng chí tước công, được bao phong đại vương, đó là Lê Ngang và Lê Liệt.

Dòng họ Lê Đình và danh tướng Lê Liệt

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, có nhiều ngôi làng đóng góp lớn về nhân lực, lại có những gia đình nhiều người cùng tham gia khởi nghĩa. Trong đó không thể không nhắc tới làng Hương Nhượng và gia đình Tư Quốc công Lê Khả Lãng. Cả 5 người con trai của ông đều có công bình Ngô mở nước, trong đó có hai người ở bậc thượng chí tước công, được bao phong đại vương, đó là Lê Ngang và Lê Liệt.

Dòng họ Lê Đình và danh tướng Lê Liệt

Ông Nguyễn Trung Thành, phó ban quản lý di tích đình làng Hương Nhượng (thôn Đông Phương Hồng, xã Xuân Hòa), giới thiệu giá trị kiến trúc nghệ thuật điêu khắc gỗ độc đáo còn lưu giữ tương đối nguyên vẹn ở ngôi đình hơn 100 tuổi.

Từ truyền thống

Theo các nguồn tư liệu, vùng đất Thọ Hải trước đây, nay là xã Xuân Hòa có vị trí “nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ” vì thế, có sự đa dạng về nguồn gốc cư dân và dòng họ. Từ rất sớm, nhiều dòng họ từ các địa phương khác nhau đã đến sinh cơ lập nghiệp, trong đó có họ Mai, Lê, Lê Đình, Lê Xuân, Nguyễn Danh, Nguyễn Ngọc, Lê Huy, Lại...

Cùng với truyền thống văn hóa, nơi đây còn nổi tiếng là vùng đất hiếu học và giàu truyền thống yêu nước. Trải qua nhiều thế kỷ, địa phương là nơi sinh nhiều danh thần, võ tướng có đóng góp quan trọng đối với lịch sử dân tộc như Bảo chính vương Lê Văn Linh, Thái phó Tư quốc công Lê Khả Lãng, Lê Cảnh Huy, Lê Ngang, Lê Liệt... Sự xuất hiện của nhiều nhân vật lịch sử tiêu biểu không chỉ phản ánh đặc trưng “địa linh nhân kiệt” của vùng đất mà còn cho thấy vai trò của Thọ Hải trước đây, nay là xã Xuân Hòa trong việc hình thành và “cung cấp” nguồn nhân lực cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đặc biệt dưới thời Lê sơ. Đây cũng là minh chứng sinh động cho sự lan tỏa của tinh thần Lam Sơn từ trung tâm phát tích đến các cộng đồng cư dân phụ cận.

Lê Khả Lãng có 10 năm tham gia kháng chiến chống quân Minh (1418-1428) và 14 năm phụng sự vương triều Lê (Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông). Từ 1428 đến 1442, Lê Khả Lãng được triều đình tin tưởng và tín nhiệm trao cho nhiều trọng trách quản lĩnh quân sự địa phương ở Đông đạo, Tây đạo là những địa bàn khó khăn nhất về nhiều mặt của đất nước thời bấy giờ. Ông đã hoàn thành trọng trách, được triều đình phong thưởng, tôn vinh xứng đáng. Đặc biệt là 1 trong 35 công thần khai quốc được vua Lê Thái Tổ “ngự danh” ban biển công thần.

Người con trai cả của Lê Khả Lãng là Lê Ngang (có tài liệu ghi là Lê Đình Ngang) - từng giữ chức võ quan trấn thủ, tham gia đảm đương việc bảo vệ vùng biên giới và giữ gìn an ninh cho vùng Lam Kinh - khu vực trọng yếu thời Lê sơ. Dù không nổi bật như các danh tướng cùng thời, nhưng qua tư liệu dòng họ, địa chí và sắc phong còn lại, ông là một trong những võ quan mẫu mực, có vai trò kế thừa và tiếp nối truyền thống trung quân, ái quốc của gia tộc Lê Đình.

Ngoài Lê Ngang, còn có 4 người con trai khác của Lê Khả Lãng cũng đều tham gia nghĩa quân Lam Sơn và đều lập được công trạng. Sáu cha con thì có 3 người tước Công, 3 người tước Hầu, trở thành một trong các gia đình “thế thần” của triều Lê sơ.

Và danh tướng Lê Liệt

Trong những người con của Lê Khả Lãng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, như gia phả họ Lê ở Ninh Bình chép, chỉ có Lê Khả Lãng và con trai thứ hai là Lê Liệt (Lê Khả Liệt) có nhiều tư liệu hơn trong sử sách. Riêng Lê Liệt được sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép cụ thể ở một sự kiện cuối năm 1423 như sau: “Vua muốn đánh thành Nghệ An nhưng chưa biết tình thế ra sao. Gặp khi Hoàng đế nhà Minh mới lên ngôi, sai nội quan Sơn Thọ dùng lời lẽ quỷ quyệt để dụ dỗ vua. Vua biết dụng ý của chúng liền nói: “Giặc sai người đến lừa ta, ta nhân chỗ sơ hở của chúng mà lừa lại, chính là dịp này đây...”. Bấy giờ vua chấn chỉnh binh tượng, tiến quân bao vây thành Nghệ An. Quân sắp đi, vừa lúc có tin báo quân Minh đã sắp đặt voi ngựa, thuyền bè, tiến quân cả hai đường thủy bộ, định ngày mai sẽ tới. Vua chia hơn 1.000 quân, cho bọn Lê Liệt đi đường đất tắt đóng, giữ huyện Đỗ Gia. Vua đích thân chỉ huy đại quân giữ chỗ hiểm yếu để đợi chúng. Được ba hôm, quân Minh đến quán Lậu và cửa Khả Lưu bày doanh trại ở hạ lưu. Vua ở thượng lưu, ban ngày dựng cờ đánh trống, ban đêm thì đốt lửa sáng trưng nhưng ngầm sai binh tượng vượt sông phục sẵn ở chỗ hiểm yếu. Trời gần sáng, giặc liền đem quân đến đánh dinh vua. Vua giả vờ rút lui, dẫn giặc tới chỗ có quân mai phục. Giặc không để ý, đem quân tiến vào sâu, quân mai phục bốn mặt nổi dậy xông ra đánh phá. Quân giặc bị chém đầu và chết đuối tới hàng vạn tên...”.

Dòng họ Lê Đình và danh tướng Lê Liệt

Nhà thờ họ Lê Đình, thôn Tân Thành, xã Xuân Hòa - di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Vì có công lớn trong khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Liệt được chính Lê Thái Tổ vinh danh là những người thứ nhất công (xếp ở hàng 35 trong tổng số 49 người thứ nhất công). Và trong danh sách 12 người được xếp là Đình hầu thập tứ nhân thì Lê Liệt được xếp ở hàng thứ 3. Ngoài ra, ông còn được suy tôn là Bình Ngô khai quốc công thần Thái bảo nghĩa chính công. Đến đời Lê Thánh Tông, vào năm Hồng Đức thứ hai, Tân Mão (1471), Lê Liệt được cử làm Đại đô đốc, theo vua đi chinh phạt Chiêm Thành. Lập được công lớn, từ đó vua Lê Thánh Tông hết sức tin dùng.

Về xã Xuân Hòa, chúng tôi được ông Lê Văn Diệp, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết: Trên địa bàn xã, ngoài đình Hương Nhượng ở thôn Đông Phương Hồng là nơi tôn vinh, thờ tự Khai quốc công thần triều Lê- Thái phó Từ quốc công Lê Khả Lãng còn có nhà thờ Lê Đình, thôn Tân Thành, nơi thờ các nhân vật lịch sử Lê Khả Lãng, Lê Đình Ngang, Lê Liệt, Lê Hoằng Đạt... Những công lao đóng góp của các vị tiên hiền cho quê hương, đất nước luôn được Nhân dân và cháu con ghi nhận, tự hào.

So với nhiều vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê thì tài liệu về dòng họ Lê Đình khá ít ỏi. Ngoài tài liệu ghi ngắn gọn trong Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Lam Sơn thực lục (bản Nguyễn Diên Niên khảo chứng, Lê Văn Uông chủ dịch), còn có ngọc phả, gia phả dòng họ... Song, đối với dòng họ nói riêng, người dân xã Xuân Hòa nói chung, những tài liệu trên là minh chứng rõ nét cho vị trí và công lao của cha con Lê Khả Lãng, Lê Ngang, Lê Liệt... trong lịch sử dân tộc. Họ xứng đáng được hậu thế tôn vinh và tìm hiểu nhiều hơn nữa.

(Bài viết có sử dụng tư liệu trong sách Đại Việt sử ký toàn thư; lý lịch di tích đình làng Hương Nhượng, nhà thờ họ Lê Đình...).

Bài và ảnh: Chi Anh



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]