(vhds.baothanhhoa.vn) - Từ tiềm năng, lợi thế của vùng biển, người dân đã lựa chọn hướng phát triển kinh tế phù hợp với tình hình địa phương và mong muốn của hộ gia đình. Việc khai thác, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và tạo nên sản phẩm đặc trưng vùng biển đã và đang được người dân vùng biển Sầm Sơn, Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Vạn Lộc... chú trọng, mang lại hiệu quả kinh tế gắn với giữ gìn nghề truyền thống của cha ông.

Khơi dậy tiềm năng từ biển (Bài 2): Làm giàu từ biển

Từ tiềm năng, lợi thế của vùng biển, người dân đã lựa chọn hướng phát triển kinh tế phù hợp với tình hình địa phương và mong muốn của hộ gia đình. Việc khai thác, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và tạo nên sản phẩm đặc trưng vùng biển đã và đang được người dân vùng biển Sầm Sơn, Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Vạn Lộc... chú trọng, mang lại hiệu quả kinh tế gắn với giữ gìn nghề truyền thống của cha ông.

Khơi dậy tiềm năng từ biển (Bài 2): Làm giàu từ biển

Nuôi cá lồng ở khu vực Đảo Mê, phường Nghi Sơn.

Trên vùng đất ven biển xã Vạn Lộc, câu chuyện khởi nghiệp của anh Trịnh Văn Doanh, thôn Nam Tiến bắt đầu từ một quyết định tưởng như mạo hiểm. Từ gần 1,5ha đất lúa một vụ kém hiệu quả, anh mạnh dạn nhận thầu, đầu tư xây dựng hệ thống ao nuôi tôm thẻ chân trắng theo hướng công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao trong nhà lưới. Nuôi tôm thẻ chân trắng thời gian ngắn, chỉ khoảng 80 - 90 ngày là có thể thu hoạch. Tôm dễ thích nghi, cho năng suất cao. Nhờ áp dụng quy trình nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP, kiểm soát tốt môi trường và con giống, mỗi năm gia đình anh Doanh duy trì 3 vụ nuôi, mang lại nguồn thu ổn định. Từ một mô hình nhỏ ban đầu, cách làm của anh Doanh đang mở ra hướng đi mới cho nhiều hộ dân ven biển, chuyển từ sản xuất truyền thống sang nuôi trồng theo hướng hiện đại, có đầu tư và tính toán dài hạn. Dẫu trải qua khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, những trận bão lớn gây ngập vùng nuôi hải sản, nhưng với kinh nghiệm và ý chí vươn lên, không chỉ anh Doanh, mà nhiều hộ nuôi trồng thủy sản nơi miền biển Vạn Lộc trụ vững, ổn định nuôi trồng từ gian khó.

Không chỉ ở Vạn Lộc, dọc theo các vùng ven biển Thanh Hóa, nuôi trồng thủy sản đang có những chuyển biến rõ nét. Người dân đã mạnh dạn đầu tư, ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, từng bước chuyển từ nuôi nhỏ lẻ sang hình thức tập trung, có quy hoạch. Những đối tượng nuôi chủ lực như tôm, cá, ngao... tiếp tục khẳng định hiệu quả kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập và tạo việc làm tại chỗ. Đặc biệt, nhiều mô hình nuôi tôm công nghệ cao trong nhà màng, nhà lưới đã chứng minh tính ổn định và hiệu quả. Với năng suất đạt từ 30 - 50 tấn/ha/vụ, có thể nuôi 2 - 3 vụ mỗi năm, các mô hình này đang dần thay thế phương thức nuôi truyền thống. Việc áp dụng các công nghệ như nuôi nhiều giai đoạn, biofloc, xử lý nước tuần hoàn... giúp kiểm soát dịch bệnh, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tính đến hết năm 2025, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt khoảng 19.200ha, trong đó có hàng nghìn ô lồng nuôi trên sông, hồ và trên biển. Không dừng lại ở quy mô hộ gia đình, nhiều địa phương đã hình thành các vùng nuôi tập trung, từng bước gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm, hướng tới sản xuất hàng hóa. Các mô hình nuôi thương phẩm cho một số hải sản có giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện tự nhiên ven biển như: mô hình trồng Rong câu chỉ vàng ghép với các đối tượng nuôi thủy sản có giá trị kinh tế cao theo hướng bền vững tại vùng triều; mô hình nuôi cá giò, tôm hùm tại đảo hòn Mê; mô hình nuôi trai nước ngọt lấy ngọc; tiếp tục ứng dụng công nghệ cao để nuôi trồng thủy sản, xây dựng các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị như mô hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Chẽm theo chuỗi giá trị đạt tiêu chuẩn VietGAP quy mô công nghiệp; mô hình ương giống, nuôi thương phẩm cá Hồng Mỹ theo chuỗi giá trị, đảm bảo an toàn thực phẩm tại vùng bãi ngang, ven biển tỉnh Thanh Hóa.

Bên cạnh nuôi trồng, khai thác thủy sản vẫn là trụ cột quan trọng của kinh tế biển. Toàn tỉnh hiện có 6.218 tàu cá, với khoảng 24.800 lao động trực tiếp tham gia hoạt động trên biển. Cơ cấu nghề khai thác đa dạng, từ lưới kéo, lưới rê đến nghề câu, nghề chụp... phân bố từ vùng ven bờ đến vùng khơi. Những năm gần đây, tỉnh đã định hướng giảm khai thác ven bờ, tăng cường khai thác xa bờ nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Các tổ đoàn kết trên biển được hình thành với hàng nghìn tàu cá tham gia, giúp ngư dân hỗ trợ nhau trong sản xuất, nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn khi vươn khơi. Song song với đó, nhiều chính sách hỗ trợ đã được triển khai, từ hỗ trợ đóng mới, cải hoán tàu cá đến ứng dụng công nghệ trong bảo quản sản phẩm sau khai thác. Nhờ đó, hiệu quả khai thác từng bước được nâng lên, giảm tổn thất và nâng cao giá trị sản phẩm. Không chỉ khai thác và nuôi trồng, việc bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản cũng được chú trọng. Các chương trình thả giống, kiểm soát khai thác bất hợp pháp (IUU) được triển khai thường xuyên, góp phần hướng tới phát triển bền vững ngành thủy sản.

Khơi dậy tiềm năng từ biển (Bài 2): Làm giàu từ biển

Thu mua hải sản tại cảng Hới (Sầm Sơn).

Một điểm nhấn khác trong hành trình làm giàu từ biển là mô hình nuôi cá lồng tại khu vực đảo Mê. Nhận thấy tiềm năng từ biển, anh Lê Đình Dũng, phường Nghi Sơn đã mạnh dạn đầu tư lớn để nuôi cá ngoài khơi. Không chỉ nuôi thương phẩm, anh còn tham gia sản xuất giống, liên kết với các hộ dân, từng bước hình thành HTX nuôi trồng thủy sản gắn với dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm. Từ những mô hình như vậy, nuôi trồng thủy sản không còn dừng lại ở sản xuất đơn lẻ, mà đang hướng tới liên kết chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả kinh tế. Năm 2022, UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 4716/QĐUBND ngày 28/12/2022 về việc phê duyệt Đề án phát triển nuôi cá lồng tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định 104/QĐ-UBND ngày 08/01/2024 về việc điều chỉnh tọa độ vị trí quy hoạch phát triển nuôi cá lồng khu vực đảo hòn Mê, mở ra cơ hội quan trọng để người dân phát huy tiềm năng khu vực biển trong nuôi trồng thủy sản trên biển, đảo. Tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh năm 2025 ước đạt 222.100 tấn (nuôi trồng thủy sản ước đạt 78.500 tấn; khai thác ước đạt 143.600 tấn, trong đó khai thác vùng khơi 89.000 tấn).

Trên hành trình về với biển, tôi có dịp gặp gỡ những ngư dân Nguyễn Văn Quân, phường Tĩnh Gia; Phạm Hồng Đào, quê Quảng Ngãi với hơn 10 năm gắn bó với vùng biển Thanh Hóa (tàu anh Đào thường xuyên cập Cảng cá Lạch Bạng, phường Nghi Sơn). Những ngày đầu năm, dù giá dầu tăng cao, nguyên liệu cho chuyến vươn khơi cao so với trước đây, nhưng với những ngư dân bám biển, họ vượt qua khó khăn, vững tay lái tiếp tục hành trình với biển. Với họ biển không chỉ mang lại nguồn lợi phát triển kinh tế, biển còn là một phần quê hương, Tổ quốc được gìn giữ, bảo vệ chủ quyền trong mỗi chuyến vươn khơi.

Từ việc khai thác, đánh bắt thủy sản, các nghề truyền thống từ biển như làm nước mắm, chế biến hải sản tiếp tục được gìn giữ và phát huy. Nhiều sản phẩm đã được công nhận OCOP, từng bước mở rộng thị trường, góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho người dân ven biển. Riêng phường Tĩnh Gia đến nay đã có 32 sản phẩm được công nhận OCOP. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế biển vẫn còn những hạn chế nhất định. Ở nhiều nơi, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ; liên kết giữa các khâu chưa chặt chẽ; một số mô hình phát triển còn mang tính tự phát. Đặc biệt, trong nuôi trồng trên biển, người dân vẫn gặp khó khăn về thủ tục thuê mặt nước, ảnh hưởng đến việc mở rộng sản xuất.

Để thực sự làm giàu từ biển cần có sự kết hợp hài hòa giữa khai thác và nuôi trồng, giữa phát triển kinh tế với bảo vệ nguồn lợi, giữa lợi ích trước mắt và mục tiêu bền vững. Từ câu chuyện của anh Trịnh Văn Doanh đến những mô hình nuôi trồng, khai thác trên khắp dải ven biển, có thể thấy một điều rõ ràng, khi người dân thay đổi tư duy, khi chính sách đồng hành và khi khoa học – công nghệ được ứng dụng hiệu quả, biển không chỉ là nơi mưu sinh, mà thực sự trở thành con đường để vươn lên làm giàu.

Bài và ảnh: Bùi Huấn



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]