(vhds.baothanhhoa.vn) - Năm 980, Lê Đại Hành hoàng đế lên ngôi, mở đầu cho triều đại Tiền Lê. Ngay sau khi lên ngôi, nhà vua đã nhanh chóng ổn định tình hình triều chính và chuẩn bị lực lượng cho công cuộc kháng chiến chống Tống - bình Chiêm, giành nền độc lập, dựng xây cơ đồ quốc gia dân tộc.

Mùa xuân năm ấy, Lê Hoàn thắng Tống - bình Chiêm

Năm 980, Lê Đại Hành hoàng đế lên ngôi, mở đầu cho triều đại Tiền Lê. Ngay sau khi lên ngôi, nhà vua đã nhanh chóng ổn định tình hình triều chính và chuẩn bị lực lượng cho công cuộc kháng chiến chống Tống - bình Chiêm, giành nền độc lập, dựng xây cơ đồ quốc gia dân tộc.

Mùa xuân năm ấy, Lê Hoàn thắng Tống - bình Chiêm

Di tích quốc gia đặc biệt đền thờ Lê Hoàn ở xã Xuân Lập, tỉnh Thanh Hóa.

Thập đạo tướng quân

Tháng 10 năm Kỷ Mùi (959) Lê Hoàn cùng các bạn từ Ái Châu ra kinh sư Cổ Loa theo Đinh Liễn phò tá Nam Tấn vương Ngô Xương Văn. Sáu năm dưới vương triều họ Ngô, Lê Hoàn chỉ là người lính, ông không có điều kiện thi thố tài năng. Đến khi Nam Tấn vương chết, Lê Hoàn theo Đinh Liễn về Hoa Lư với Đinh Bộ Lĩnh, ông mới được chỉ huy hàng nghìn quân.

Năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, rời kinh ấp từ Cổ Loa về Hoa Lư, bắt đầu dựng kinh đô mới, đào hào, đắp lũy... và sau đó là quy định cấp bậc các quan văn, võ, tăng đạo trong triều. Lê Hoàn được phong Thập đạo tướng quân - chức quan đứng đầu quân đội, coi 10 đạo quân trong cả nước. Điều này khiến nhiều đại thần trong triều như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp tỏ ra bất bình với nhà vua, vì chức quan đứng đầu quân đội lại giao cho người ngoại tộc.

Ở cương vị đứng đầu ba quân trong cả nước, Lê Hoàn chủ trương xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh, có kỷ cương, có khả năng phòng thủ và phản công tốt theo địa lý tự nhiên của nước ta. Đặc biệt, ông chú trọng đến việc xây dựng lực lượng thủy binh thiện chiến, với lý do: “nước ta chiếm 2 phần 3 là sông ngòi, biển cả, các cuộc xâm lược của phương Bắc xuống và phương Nam lên phần lớn đều dùng thủy binh, ta không có lực lượng thủy binh mạnh là tự trói tay mình nộp cho giặc". Suốt 9 năm làm thập đạo tướng quân, Lê Hoàn toàn tâm toàn ý xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh, một lòng phó tá nhà Đinh.

Điều lo ngại của Lê Hoàn cũng đã đến, đó là mối rạn nứt trong triều đình nhà Đinh. Những biến cố xảy ra với nhà Đinh, cũng là biến cố của cả dân tộc, để lịch sử lại chất lên đôi vai Lê Hoàn một sứ mệnh lịch sử mới.

Tháng 10 năm Kỷ Mão (979) Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn sau tiệc rượu uống say, đã bị Đỗ Thích giết hại. Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi hoàng đế. Để giúp vua nhỏ trông coi việc nước, triều đình cử Lê Hoàn làm nhiếp chính. Và để tăng thêm quyền lực, thuận tiện cho việc ngoại giao và điều hành đất nước, Lê Hoàn tự xưng là Phó vương. Kể từ đây, ông đã gây nên mối nghi ngờ, hiềm khích, một sự hiểu lầm tai hại trong nội bộ triều đình nhà Lê khiến đất nước mới ra khỏi lò lửa chiến tranh được hơn 10 năm lại lâm vào cảnh nồi da nấu thịt.

Thời điểm đó, Đại Cồ Việt đang lâm vào tình thế khó khăn, thù trong, giặc ngoài. Phía Nam, Chiêm Thành lâm le xâm phạm bờ cõi, phương Bắc nhà Tống đang chuẩn bị binh lương sang đánh nước ta.

Lịch sử gọi tên Lê Hoàn

Kể từ khi Đại tướng quân Phạm Cự Lượng và Thái sư Tống Văn Mẫn bày tỏ: “Xin ông Thập đạo sớm lên ngôi thiên tử để vỗ yên trăm họ, chỉnh đốn binh lương, lấy việc chống giặc ngoại xâm, cứu dân làm trọng”, và Thái hậu Dương Vân Nga đem áo long cổn ra nói: “Nay ta đem cơ nghiệp nhà Đinh trao lại cho quan Thập đạo, đất nước Đại Cồ Việt lành hay dữ, suy hay hung đều do một tay tướng quân định đoạt, mẹ con, bà cháu ta cũng đều mong cậy vào tướng quân cả” trách nhiệm đã đặt lên đôi vai của Lê Hoàn.

Tháng 6 năm Canh Thìn (980) Lê Hoàn lên ngôi, lấy niên hiệu là Thiên Phúc. Đến tháng 8, vua Tống xuống chiếu đem quân sang đánh nước ta. Một trong những công lao vĩ đại của Lê Đại Hành hoàng đế đối với dân tộc là công cuộc chống Tống, bình Chiêm. Với tài năng, đức độ ông đã hiệu triệu được mọi tầng lớp Nhân dân tham gia dưới ngọn cờ nghĩa chống xâm lăng. Đó chính là lý do quan trọng, để Đại Cồ Việt nhỏ bé có thể giành chiến thắng lẫy lừng trước kẻ thù ngoại bang hùng mạnh. Đặc biệt, trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng diễn ra vào ngày 28/4/981, tiêu diệt tướng Hầu Nhân Bảo, khiến quân Tống thất bại hoàn toàn, buộc phải rút quân và củng cố nền độc lập cho nhà Tiền Lê.

Mùa xuân năm ấy, Lê Hoàn thắng Tống - bình Chiêm

Những hình phù điêu đất nung tại đền thờ Lê Hoàn mang đậm dấu ấn kiến trúc nghệ thuật thế kỷ XVII.

Trước sự quấy nhiễu của quân Chiêm Thành, mùa xuân năm Nhâm Ngọ (982) nhà vua khởi binh. Chiến thuyền của vua thuận theo chiều gió tiến thẳng vào kinh đô nước Chiêm. Lúc bấy giờ quân ta vừa đánh tan ba đạo quân xâm lược nhà Tống khí thế đang hăng, ngay trận đầu quân tướng của ta đã ồ ạt xông lên giết chết tại trận vua Chiêm.

Đánh giá về công cuộc chống Tống, bình Chiêm của nhà vua, sử gia Ngô Sĩ Liên bàn: “Vua đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành rửa cái sỉ nhục phiên di bắt giữ sử thần, phá tan quân Triệu Tống để bẻ cái mưu vua tôi ăn chắc, có thể gọi là bực anh hùng nhất đời vậy”.

Kể từ sau khi thắng quân Tống trên sông Bạch Đằng năm 981 và cuộc chinh phạt Chiêm Thành năm 982, vua Lê Đại Hành càng để tâm xây dựng lực lượng thủy quân hùng mạnh. Thậm chí ông còn cho làm lễ đua thuyền, đầu tiên chỉ quân sĩ tham dự, về sau các vùng có sông rạch đều tổ chức cho trai tráng tham gia. Hệ thống kênh đào từ Đồng Cổ đến sông Bà Hòa (Ái Châu) được nạo vét; hệ thống sông kênh ven biển từ Ái Châu và Hoan Châu (từ Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh ngày nay) tất cả đều đi theo con nước thủy triều lên xuống (ngày nay gọi là hệ thống kênh nhà Lê). Từ đây, kênh nhà Lê có vai trò quan trọng vận tải quân lương, mở rộng lãnh thổ về phía Nam và phát triển nông nghiệp. Để khuyến khích việc nông tang, thực hiện chính sách “dĩ nông vi bản”, năm Đinh Hợi, lần đầu tiên vua tham gia cày ruộng tích điền ở núi Đọ (núi Đội Sơn, ở Hà Nam, nay là tỉnh Ninh Bình). Cũng từ buổi ấy, cày tịch điền trở thành một phong tục đẹp, được lưu giữ suốt ngàn năm, thể hiện tinh thần trọng nông của cư dân văn minh lúa nước.

Ngoài ra, vua Lê Đại Hành cho đúc tiền Thiên Phúc, Thông Bảo phát hành rộng rãi trong cả nước vào năm 984. Đến năm 986, vua cho điểm số dân toàn nước để lấy lính, đây chính là đợt điều tra dân số đầu tiên ở nước ta.

Sau 24 năm trị vì, năm 1005, vua Lê Đại Hành băng hà. Tưởng nhớ công ơn người anh hùng kiệt xuất của quê hương, Nhân dân làng Trung Lập lập đền thờ ông ngay trên mảnh đất mẹ con nhà vua từng ở khi xưa. Là quê hương của một bậc minh quân, ngày nay, làng Trung Lập vẫn còn lưu giữ nhiều lễ tục có lịch sử ngàn năm; một trong số đó là tục làm bánh răng bừa. Theo câu chuyện truyền miệng của người dân địa phương, bánh răng bừa là sản vật liên quan đến Lễ tịch điền của vua Lê Đại Hành. Năm ấy, nhà vua về quê cày ruộng. Để thể hiện lòng thành kính, người dân bèn chọn gạo ngon và thịt lợn, làm thành chiếc bánh có hình dạng giống như răng chiếc bừa, đem dâng ngài. Từ đó, nghề làm bánh răng bừa ra đời và được người dân làng Trung Lập giữ gìn cho đến hôm nay.

Tiếng chuông tại Di tích quốc gia đặc biệt đền thờ Lê Hoàn vẫn ngân vang, khói nhang trên bàn thờ hiếm khi nào không có, bởi đối với dân làng Trung Lập, Lê Hoàn không chỉ là người con của làng, ông còn là minh quân sáng lập triều Tiền Lê với công huân sự nghiệp lẫy lừng. Đã 1021 năm kể từ ngày Lê Đại Hành hoàng đế băng hà, câu chuyện về sự nghiệp chống Tống, bình Chiêm của ông gắn liền với những ngày xuân lịch sử là minh chứng cho tinh thần tự lập tự cường của dân tộc Việt Nam.

(Bài viết có sử dụng tư liệu sách Vua Lê Đại Hành và quê hương Trung Lập (Lê Xuân Kỳ - Hoàng Hùng, NXB Thanh Hóa, 2013); Địa chí xã Xuân Lập (NXB Thanh Hóa, 2019)...

Bài và ảnh: Kiều Huyền



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]