Người về từ “tọa độ lửa”
Từ Thành cổ Quảng Trị trở về với thương tật 2/4, cựu chiến binh Trần Thế Mạnh đã trải qua những năm tháng hậu chiến bằng nghị lực của một người lính. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng mỗi lần gặp lại đồng đội, ký ức về 81 ngày đêm chiến đấu ở “tọa độ lửa” này vẫn nguyên vẹn trong ông.

Cựu chiến binh Trần Thế Mạnh (thứ 2 hai từ phải qua) cùng các đồng đội trong ngày gặp mặt.
Tại hội trường xã Quảng Ninh (Thanh Hóa), không khí buổi gặp mặt các cựu chiến binh diễn ra ấm cúng và xúc động. Giữa những mái đầu đã điểm bạc, những bộ quân phục ngả màu theo thời gian, cựu chiến binh, thương binh Trần Thế Mạnh, người lính trinh sát năm xưa, lặng lẽ siết chặt tay người đồng đội. Câu chuyện nối dài từ người này sang người khác, đưa họ trở về với những năm tháng chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị.
Ký ức về năm 1972 lần lượt được nhắc lại. Có dòng sông Thạch Hãn, có những căn hầm từng bị bom đánh sập, có những phần lương khô được sẻ cho nhau giữa lúc thiếu thốn và có cả những người đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại ở tuổi đôi mươi. Với họ, cuộc gặp mặt hôm nay không chỉ để nhắc lại chuyện cũ, mà còn để nhớ về những người đã hy sinh và thêm trân trọng giá trị của hoà bình.
Sinh năm 1947 tại làng Ngưu Trung, xã Quảng Bình (Thanh Hóa), tuổi thơ của ông Trần Thế Mạnh là chuỗi ngày đầy nhọc nhằn, thiếu thốn.
Năm 1966, một trận bom trút xuống làng quê đã cướp đi toàn bộ người thân của ông, căn nhà nhỏ cũng bị thiêu rụi. Mất cả cha lẫn mẹ, không còn người thân để nương tựa, cậu thiếu niên phải tự kiếm sống bằng việc mò cua, bắt cá, rồi lặn lội sang xã Quảng Ninh trọ học để hoàn thành chương trình lớp 7.
Năm 1970, chàng trai trẻ gác lại những dự định còn dang dở, xung phong nhập ngũ và được điều vào chiến trường B5. Là lính trinh sát Tiểu đội 3, Trung đội 3, Đại đội 20, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 ông cùng đồng đội nhiều lần luồn sâu vào vùng địch kiểm soát để nắm tình hình, tìm đường, mở lối cho các đơn vị tiến công. Những nhiệm vụ ấy đưa người lính trẻ đến với một trong những chiến trường khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến.

Kỷ niệm chiến trường được cựu chiến binh Trần Thế Mạnh kể mãi không hết.
Ký ức 81 ngày đêm chốt giữ từng tấc đất ở Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972 trong tâm trí cựu chiến binh Trần Thế Mạnh là những ngày chiến đấu kiên cường, gồng mình dưới căn hầm chật hẹp chịu đựng hàng trăm trận pháo từ biển dội vào và máy bay B-52 trút xuống liên tục không kể ngày đêm.
Đối phương dốc toàn bộ lực lượng tinh nhuệ nhất như Sư đoàn dù, lính thủy đánh bộ... với mục tiêu cắm cờ lên Thành cổ. Chúng trút xuống vùng đất rộng chưa đầy 3 km2 hàng tấn bom đạn với sức tàn phá tương đương 7 quả bom nguyên tử Mỹ từng thả xuống Hiroshima.
“Đạn pháo cày nát hết, không còn một ngôi nhà hay viên gạch nào lành lặn. Hầm bị sụt, anh em dồn lại, thiếu nước uống, chỉ chờ ngớt tiếng pháo mới dám bò ra hứng từng chút nước. Có những lúc hầm sập, đồng đội kẹt bên dưới mà mình lực bất tòng tâm...", ông Mạnh nhớ lại.
Chiến trường khốc liệt, ranh giới sinh tử dường như chỉ trong một cái chớp mắt. “Tôi nhớ nhất là lần nhận lệnh bơi qua sông Thạch Hãn để sang bờ Bắc. Lúc đó pháo địch dội xuống liên tục, dòng sông sục sôi, khói súng mịt mùng cả mặt nước. Tôi bơi giỏi, nhưng khổ nỗi đồng chí Nguyễn Xuân Hưng, người Hà Tây cũ, lại không biết bơi. Nhìn dòng sông đạn pháo cày xới như thế, tôi một tay ôm súng, một tay cầm sợi dây buộc chặt vào người ông Hưng kéo đi. Khi lên đến bờ an toàn, chân tay còn run rẩy, chúng tôi ôm chầm lấy nhau mà vỡ òa, sướng vì thấy cả hai vẫn còn sống"....
Sau những ngày tháng chiến đấu kiên cường ở chiến trường Quảng Trị khốc liệt, tháng 3/1973, ông Mạnh bị thương nặng. Ông được đưa về tuyến sau điều trị ở tuyến thu dung rồi tiếp tục chuyển về Viện Quân y 111 ở Cầu Thiều (Thanh Hóa) dưỡng thương dài ngày.
Ít ai biết, mối tình của chàng trai mồ côi và cô thôn nữ Lê Thị Kền đã nảy nở từ những ngày hai người còn chung mái trường. Suốt những năm tháng ông đi chiến đấu rồi nằm điều trị vết thương, tình cảm chân thành ấy vẫn vẹn nguyên, là tựa đỡ tinh thần ấm áp cho người lính trẻ.
“Lúc bị thương trở về, thấy thân thể không còn lành lặn, tôi định bụng cứ ở vậy cho xong, tôn thờ “chủ nghĩa độc thân”. Thế nhưng bà Kền nhà tôi vì thương cái nết, hiểu cái tình của người lính mà chẳng sợ khó, không sợ khổ”, ông Mạnh bộc bạch.
Năm 1974, hai người chính thức nên duyên vợ chồng trong sự yêu thương, đùm bọc của xóm làng. Đến năm 1976, ông Mạnh phục viên trở về địa phương với tỷ lệ thương tật 2/4.
“Ngày ấy nghèo lắm, vợ chồng tôi hai bàn tay trắng tự tay dựng nên túp nhà tranh vách đất. Thương vợ vất vả vun vén, tôi dặn lòng dù mang thương tật cũng phải gồng gánh gia đình. Rồi trời thương, căn nhà xiêu vẹo ngày nào cứ thế ấm dần lên, rộn rã tiếng cười khi 5 đứa con (2 trai, 3 gái) lần lượt chào đời”, ông xúc động chia sẻ.
Thế nhưng, gian nan vẫn chưa chịu dừng lại. Cơn bão số 6 tàn khốc năm 1980 càn quét qua, cuốn phăng đi căn nhà tranh vách đất vừa mới dựng xong. Không gục ngã, hai vợ chồng ông lại đào đất đắp tường, bẻ tranh lợp lại mái nhà. Những năm tháng khó khăn ấy, gạt qua cơn đau nhức của vết thương mỗi lúc chuyển mùa, ông Mạnh lặn lội ngược xuôi lên tận vùng biên giới Lạng Sơn buôn bán, chắt chiu từng đồng để nuôi năm người con ăn học nên người.

Cái nắm tay giữa thời bình của những người lính
Người lính năm xưa giờ mái tóc đã bạc màu, vết thương trên thịt da mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức nhối, nhưng câu chuyện về một thời hoa lửa gian nan vẫn luôn được nhắc đến đầy tự hào.
Nhìn những nụ cười rạng rỡ, những cái bắt tay thật chặt trong ngày hội ngộ, càng thấy trân trọng những năm tháng bình yên hôm nay. Bởi mỗi người lính đều mang trong mình ký ức về chiến tranh, những mất mát không thể nào quên và tình đồng đội vẫn nguyên vẹn sau hơn nửa thế kỷ.
Minh Quyên
{name} - {time}
-
2026-07-26 16:50:00Từ những mái tóc hiến tặng đến nụ cười của bệnh nhân ung thư
-
2026-07-26 16:34:00Xã Quảng Chính tổ chức nhiều hoạt động tri ân nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
-
2026-07-26 16:17:00“Ngọn lửa” tri ân






