Tâm thức thiền trong thơ Văn Đắc
Văn Đắc - nhà thơ xứ Thanh với hành trình bền bỉ và không ngừng đổi mới để bắt nhịp với thời cuộc. Văn Đắc - nhà thơ không tuổi, nhà thơ thấm đẫm chất thi sĩ từ dáng vẻ đến nội tâm. Sáng tác của ông không chỉ góp phần làm giàu có, phong phú văn học của một địa phương, mà còn góp phần làm cho nền thơ hiện đại Việt Nam thêm dạt dào và rực rỡ.

Văn Đắc tuyển tập, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2024. Ảnh: Bảo Anh
Tôi phát hiện tâm thức thiền trong thơ Văn Đắc khi đọc đến bài Một mình trong “Văn Đắc tuyển tập” (NXB Hội Nhà văn, 2024). Thiền là khái niệm biểu đạt nội dung cốt lõi của hoạt động tu hành theo đạo Phật. Mục đích của thiền trong Phật giáo là thanh lọc tâm (loại bỏ tham, sân, si), rèn luyện sự tập trung (định) và phát triển trí tuệ (tuệ) để thấu hiểu bản chất vạn vật (tính không, duyên khởi), dẫn đến sự giải thoát khỏi khổ đau. Thiền Phật giáo gồm hai dạng: Thiền định (Samatha) và Thiền quán (Vipassana). Về cơ bản, thiền Phật giáo hướng tới rèn luyện con người về cả thân thể và tâm trí, sao cho con người đủ sức mạnh để nhìn nhận thấu đáo bản chất của thế giới, tự giải thoát khỏi mọi ràng buộc và luôn giữ sự an lạc trong nội tâm. Tâm thức (Psyche) là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp dùng để chỉ toàn bộ tâm trí con người, cả phần ý thức, tiềm thức và vô thức. Nói tâm thức thiền trong thơ Văn Đắc là muốn nhấn mạnh đến các khía cạnh của đời sống bên trong, bao gồm trí tuệ, cảm xúc, thái độ... mang tính thiền của nhà thơ được trình hiện trong thế giới nghệ thuật của ông.
Phát hiện sâu sắc về bản chất của đối tượng
Bắt đầu làm thơ từ những năm 1960, Văn Đắc đã chứng kiến những năm tháng đất nước đau thương vì chiến tranh. Tuy vậy, khác với nhiều người, ông không chú trọng miêu tả sự tàn phá, hủy diệt của bom đạn. Nghĩa là, ông không quan sát sự việc ở biểu hiện bên ngoài, mặc dù ở đó chất thơ vẫn có thể hiện diện trong sự cao cả, vĩ đại, vượt lên nghịch cảnh. Ông phát hiện chất thơ ngay trong cái bình dị, nhỏ bé, thậm chí, giữa hoang tàn, đổ nát. Trong Làng sơ tán và Em ơi, thành phố, những “mầm xanh” của cây mơ “bật sáng” hay những “khuy hoa năm cánh nở mơ màng” của cây me đất không chỉ là sự đâm chồi nảy lộc, là ánh sáng của sự sống mới giữa nơi hủy diệt, chết chóc; mà còn là biểu tượng của sức sống bất diệt không gì ngăn cản nổi - sức mạnh được hình dung từ tâm hồn yêu cái đẹp, trân trọng cái đẹp. Đến lượt mình, sự hiện hữu của cái đẹp, dù nhỏ bé, vẫn có sức động viên mạnh mẽ đối với con người. Văn Đắc thường nhìn hệ lụy chiến tranh và cuộc sống hậu chiến theo cách đó.
Để có sự thấu thị, Văn Đắc thường tư duy theo chiều sâu, quan sát mọi vật từ ngọn nguồn, khởi thủy của nó. Nhìn thành phố hôm nay, ông hình dung: “Con sông thai nghén/ Thai nghén mãi mới đẻ ra thành phố” (Thành phố của tôi). Không chỉ được thai nghén từ con sông, Thành phố của tôi còn được thai nghén từ Thị xã. Hai chữ “Thị xã” ngày nay trở nên xa lạ nhưng đã thân thuộc và rất thân thương với nhiều người. Văn Đắc nhìn những đổi thay của thị xã trong chặng đầu đổi mới với ít nhiều tiếc nuối. Nhưng đến Thành phố của tôi, trước tốc độ chóng mặt của đô thị hóa, ông lại trở nên lão thực, thâm trầm hơn. Từ Thị xã thời kháng chiến “khấp khểnh”, “ngổn ngang” đến Thành phố của tôi, Văn Đắc đã phác vẽ nhiều biến thiên của thời cuộc. Thị xã bé nhỏ yên bình, thành phố là không gian chia nhỏ, đa chiều, phức tạp. Thị xã là những nét mộc mạc, chân xác, Thành phố của tôi là cái nhìn đi qua thời gian, đầy tính phúng dụ. Với nhiều người, nhất là những người sống ở nông thôn, từng trải qua gian khổ, từng rung động trước điều nhỏ bé bình dị, chứng kiến cảnh “Thành phố khát lên cao rộng áp chân trời/ Những con đường dựng đứng/ Những mái nhà bắc cầu” có thể bị sốc - những cú sốc đa giác quan. Nhưng Văn Đắc thì không, ông quan sát mọi sự thay đổi bằng một thái độ điềm tĩnh đến ngạc nhiên, bởi ông nhận rõ sự vô thường, nhận rõ quy luật của sự tiến triển.
“Tự nhiên nhi nhiên” trong giao hòa với thế giới
Trong tâm thức thiền, Văn Đắc thường không đặt con người ở vị trí trung tâm mà tôn trọng mọi sự sống. Thơ ông có nhiều bài nói về thiên nhiên: Hạt gạo, Tiếng chim sáo, Đồng cỏ, Bãi cáy... Thiên nhiên trong thơ Văn Đắc không phải chỉ là cái cớ để cảm xúc thơ xuất hiện, mà trở thành tâm điểm, thành đối tượng để nhà thơ tìm kiếm, suy tư về cái vĩnh hằng, về những điều vô thủy vô chung. Ở đó, ông phát hiện ra nhiều nghịch lý, mà cũng là chân lý (Dòng sông trong đêm, Biển xanh). Tình cảm tác giả dành cho đất, cho nước, cho cỏ, cho hoa, cho lúa, cho sông, cho biển, cho rừng... không phải là thứ tình yêu của chủ thể với một thứ khách thể vô tri. Ông hình dung vạn vật đều có đời sống của nó. Bởi vậy, ông ngắm, ông nhìn, ông hồi cố, ông suy nghĩ, ông băn khoăn, ông tưởng tượng... nghĩa là, ông huy động mọi giác quan để đời cây được tái hiện rõ nhất (Cây gạo già). Ở nông trường, ông thấy đồng cỏ hiện diện, gắn bó như một phần sự sống nơi đây (Đồng cỏ). Trước giấc ngủ say sưa của rừng, ông như muốn cả tiếng cười cũng nên nhỏ lại (Rừng ngủ). Có khi, Văn Đắc sẻ chia với cây như với một người tri kỷ tự thuở nào (Hoa lộc vừng). Yêu cây, tôn trọng tự nhiên là biểu hiện quan trọng của đạo đức sinh thái. Đó cũng chính là tinh thần từ bi vô lượng, là sự giác ngộ sâu sắc về giá trị sự sống mà ở trạng thái thiền, con người mới có thể đạt tới. Với Văn Đắc, thiên nhiên không chỉ là nguồn cảm hứng mà còn là liệu pháp chữa lành và thanh lọc tâm hồn để hướng tới những điều chân thiện nhất. Bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ dường như đang cuốn con người vào vòng xoáy của đời sống thực dụng và chủ nghĩa tiêu dùng. Thơ Văn Đắc hiện diện như lời nhắc nhở về thái độ sống từ tốn, an hòa, tôn trọng vạn vật, rất cần thiết với hôm nay.
Cũng bởi lòng từ bi và tâm thế “tự nhiên nhi nhiên” trong cảm xúc thẩm mỹ, Văn Đắc thấu hiểu và sẵn lòng sẻ chia với những cảnh ngộ không may mắn: một người nữ lỡ thì (Muộn màng), một người dì tái giá (Dì tôi), một làng con gái với nhiều cảnh éo le (Làng con gái)... Thậm chí, hòn đá vọng phu, tưởng vô tri, cũng gợi nên ở nhà thơ sự đồng cảm (Đá không chồng). Qua những bài thơ như vậy, Văn Đắc cho thấy khả năng dồi dào trong việc biểu đạt nỗi cô đơn, trống trải, thiếu vắng và khao khát thầm kín, mãnh liệt của người phụ nữ. Từ khả năng đó, ông cũng sáng tạo nhiều bài thơ tình đặc sắc, xứng đáng được đưa vào bất kỳ tập thơ tình tuyển chọn nào của nền thơ hiện đại Việt Nam (Mầu nhiệm, Giải thoát, Em đến, Em đã đến, Cảm ơn, Thoáng hiện, Trăng...).
An lạc, tự giải thoát khỏi những ràng buộc bằng sức mạnh của tuệ giác
Hiểu đời và hiểu rõ mình, Văn Đắc nhiều lúc lấy mình làm đối tượng để hài hước, bông đùa. Nhưng ngay trong giọng bông đùa, ta vẫn thấy một chân dung người thơ rất thâm hậu. Tình cảnh của thi nhân trong Làng ơi tuy không giống Hạ Tri Chương đời Đường trong Hồi hương ngẫu thư, nhưng cảm giác lạc lõng, cô đơn tuổi xế chiều giữa quê hương thì có sự đồng điệu. Với Văn Đắc, dù đi đâu, gặp ai, ngắm cảnh gì, thì những người thân như mẹ, em, con, người hàng xóm... và quê hương xứ Thanh vẫn mãi gắn bó như máu thịt. Ông vẫn “Đứng ở chiều Phan Rang/ Mà nhớ về Thanh Hóa” (Ở Phan Rang gặp bạn), vẫn luôn tự hào Tôi người Thanh Hóa với “Cái khuôn đúc sẵn của trời/ Đã xoay đủ cách vẫn trồi tôi ra”. Sự bất biến về bản chất, cốt cách của một người phải chăng cũng hình thành chính trong tinh thần kiên trường rèn luyện thân tâm, để ngày càng trở nên rắn rỏi và mạnh mẽ.
Nhờ rèn luyện được tâm an định, giữ vững cốt cách con người trước mọi sự đổi thay, kể cả sóng gió, Văn Đắc luôn có được thái độ hết sức điềm tĩnh trong nhìn nhận/ quán chiếu thế giới xung quanh. Vậy nên, khi nhìn thấy “những biệt thự vừa nhập tịch vào đô thị”, ông vui vẻ “dừng lại ngắm nhìn” (Ngọn gió đồng quê). Trong khoảnh khắc, nhiều mâu thuẫn, xung đột đã chồng nối “diễn ra” khiến bài thơ trở nên đầy kịch tính. Nhưng phía sau vẻ gay cấn bề mặt, ta nhận thấy nhiều Phật tính ở bề sâu. Phật tính được thể hiện trong những từ ngữ hài hước, dí dỏm biểu đạt sự điềm nhiên, nhẹ nhõm. Phật tính trong tinh thần từ bi, lòng trắc ẩn trước sự sống của tự nhiên và con người bị đe dọa. Phật tính trong thái độ khoan hòa, lắng nghe, chia sẻ, và trên hết, là sự bình thản, an nhiên, tự giải thoát khỏi những cám dỗ vật chất, thảnh thơi sống với thiên nhiên, với ký ức tuổi thơ, với phần đời sống tinh thần cao khiết của con người. Văn Đắc đã trở thành một người thơ trong tinh thần đó.
Nhìn chung, có một tâm thức thiền xuyên suốt các chặng đường sáng tác thơ của Văn Đắc. Nếu ở chặng đầu là tình yêu thiên nhiên, là cái nhìn bình tĩnh, lạc quan trong hoàn cảnh chiến tranh, thì càng về sau, tâm thức thiền càng thể hiện ở chiều sâu với nhiều biểu hiện đa dạng. Thay đổi về tư tưởng khiến thơ Văn Đắc cũng dần chuyển từ bút pháp lãng mạn sang tượng trưng. Nhạc tính và khả năng cảm nhận, biểu đạt những khía cạnh nội tâm bằng nhiều giác quan làm cho thế giới nghệ thuật của Văn Đắc ngày càng phong phú, sâu sắc và hấp dẫn. Nơi ông, tâm thức thiền được hình thành từ sự lắng nghe và thấu hiểu, từ sự rèn đúc trí lực và cảm xúc để vượt lên những giới hạn của chính mình và mọi sự chi phối, để được hạnh phúc trở về thời thơ ấu của đời người.
PGS.TS Lê Tú Anh
{name} - {time}
-
2026-04-23 17:07:00Bà nội siêu đỉnh của tôi (Chapter 3): Cái sự... lẩm ca lẩm cẩm
-
2026-04-22 19:00:00[Podcast Tản văn]: Tháng Tư bông lúa cúi đầu
-
2026-04-22 17:16:00Bà nội siêu đỉnh của tôi (Chapter 2): “Gia tài” quý giá của một người nghèo

![[Podcast Tản văn]: Tháng Tư bông lúa cúi đầu](http://c.dhcn.vn/media/img/256/news/2616/146d3080713t07337l1-download6.webp)



![[Thanh Hóa xưa và nay] Cửa biển Lạch Trường – nơi giao hòa giữa chiều sâu lịch sử và nhịp sống hiện đại](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2615/280d0202115t1798l1-screenshot-11.webp)
