(vhds.baothanhhoa.vn) - Ở “cửa ngõ” phía Bắc xứ Thanh, có một vùng đất án ngữ trên con đường Thiên lý xưa, bên dãy Tam Điệp đồi núi điệp trùng, khiến bao bậc tao nhân mặc khách “mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”. Vùng đất ấy còn gắn với một không gian tín ngưỡng linh thiêng, chốn tìm về của những người mộ đạo.

Vùng đất “cửa ngõ” xứ Thanh

Ở “cửa ngõ” phía Bắc xứ Thanh, có một vùng đất án ngữ trên con đường Thiên lý xưa, bên dãy Tam Điệp đồi núi điệp trùng, khiến bao bậc tao nhân mặc khách “mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”. Vùng đất ấy còn gắn với một không gian tín ngưỡng linh thiêng, chốn tìm về của những người mộ đạo.

Vùng đất “cửa ngõ” xứ Thanh

Du khách về dâng lễ ở đền Sòng (Sòng Sơn).

Từ những địa danh

Bắc Sơn (thuộc thị xã Bỉm Sơn cũ), nay thuộc phường Quang Trung không phải là địa danh có từ xa xưa. Song trên vùng đất này từ nhiều thế kỷ trước đã hình thành và phát triển những làng, địa danh lâu đời. Theo sách Địa chí Bỉm Sơn và Tên làng xã Thanh Hóa (tập 1), xa xưa, vùng đất này thuộc quận Cửu Chân. Đến thời Lý - Trần, nơi đây thuộc Châu Ái, trấn Thanh Đô. Thời Lê- Nguyễn, thuộc huyện Tống Giang (Tống Sơn), phủ Hà Trung. Trước Cách mạng Tháng Tám thuộc các làng Phú Dương, Cổ Đam, tổng Trung Bạn và Ba Lá (một chòm bản thuộc tổng Thượng Bạn), huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Về sau, nơi đây thuộc xã Cổ Đam (xã lớn), rồi tách lập phường Bắc Sơn.

Hiện nay, gồm các tổ dân phố 10, 11, 12, 13 và 14 phường Quang Trung.

Theo lời kể của các bậc cao niên, Cổ Đam xưa là một xã lớn, không chỉ bó hẹp trong phạm vi thôn Cổ Đam sau này mà còn trải rộng trên địa bàn nhiều phường thuộc thị xã Bỉm Sơn cũ như Ba Đình, Bắc Sơn, Lam Sơn, ngày nay thuộc các phường Quang Trung và Bỉm Sơn. Những thay đổi về địa giới hành chính khiến tên gọi làng, xã qua các thời kỳ có nhiều biến đổi. Tuy nhiên, đi qua thời gian, những tên gọi lâu đời vẫn được người dân nhắc nhớ.

Trên đèo Ba Dội

Vùng đất này có cảnh quan sơn thủy hữu tình, với điểm nhấn là danh thắng Tam Điệp trải dài qua địa phận hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình. Theo các tài liệu địa chí, dãy Tam Điệp có sơn mạch từ vùng Cẩm Thủy kéo xuống Thạch Thành, Vĩnh Lộc, qua Hà Trung, Bỉm Sơn. Đến địa đầu Hà Trung, mạch núi chia làm hai ngả: một ngả chạy về phía Nam, hướng ra biển Hậu Lộc, tạo thành dải núi Triệu Tường; ngả còn lại vòng lên phía Bắc, qua địa phận Bỉm Sơn rồi đâm ngang ra biển Nga Sơn, hình thành dãy Tam Điệp.

Về tên gọi Tam Điệp, theo sách Đại Nam nhất thống chí, núi có ba ngọn: Một ngọn ở phía Tây Bắc Thanh Hóa, thế núi tương đối bằng phẳng; một ngọn ở giữa cao chót vót, là nơi phân chia địa giới Thanh Hóa và Ninh Bình; ngọn còn lại thuộc địa phận Ninh Bình, có thế núi thấp dần. Từ đặc điểm ấy, núi được gọi là Tam Điệp.

Đứng từ trên cao nhìn ra bốn phía, thu vào tầm mắt không gian bao la, xanh mát, với những đồi thoai thoải phía dưới, hoa trái bốn mùa ngọt lành. Phía đông, xa xa là biển. Với địa thế đặc biệt, Tam Điệp từ lâu được ví như “yết hầu” nối hai miền Nam - Bắc.

Dưới góc nhìn quân sự, dãy núi trùng điệp tạo nên “bức tường” tự nhiên làm ngăn trở người qua lại. Theo sách Địa chí Bỉm Sơn, người xưa đã mở một con đường độc đạo qua dãy Tam Điệp, nối Bỉm Sơn với Ninh Bình. Tuyến đường đi qua đèo Ba Dội, bên kia đèo là đất Ninh Bình, bên này thuộc Thanh Hóa. Đỉnh cao nhất của dãy núi nằm trên địa phận Bỉm Sơn.

Xưa kia, nơi đây có ải quan nằm trên trục đường xuyên Việt, thường gọi là đường Thiên lý. Đường đi qua đèo Ba Dội hiểm trở, quanh co, len lỏi giữa những khe núi và vách đá dựng đứng. Địa thế ấy tạo nên một phòng tuyến có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Trong lịch sử, vùng đất này từng chứng kiến nhiều khói lửa binh đao. Đặc biệt, dưới thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã dừng chân tại khu vực Tam Điệp để tuyển quân, mộ binh, luyện quân, chuẩn bị cho cuộc tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh xâm lược.

Sang thế kỷ XIX, vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong chuyến tuần du phía Bắc, khi qua đèo Ba Dội, cũng tức cảnh làm bài thơ Quá Tam Điệp sơn (Qua núi Tam Điệp). Ngày nay, văn bia khắc thơ vua Thiệu Trị vẫn được lưu giữ trên đỉnh cao nhất của đèo Ba Dội, người dân thường gọi Nhà bia Ba Dội, hay đền Ba Dội.

Vùng đất “cửa ngõ” xứ Thanh

Từ trên đèo Ba Dội, thu vào tầm mắt là phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp.

Đặc biệt, theo lưu truyền dân gian, Thánh Mẫu Liễu Hạnh từng hiển linh trên đèo Ba Dội, giúp đỡ khách bộ hành qua lại, đồng thời trừng trị những kẻ ác nhân. Từ dấu ấn lịch sử, cảnh quan thiên nhiên đến những huyền tích, núi Tam Điệp và đèo Ba Dội đã trở thành một phần “ký ức” văn hóa của vùng đất cửa ngõ xứ Thanh.

Không gian tín ngưỡng thờ Mẫu linh thiêng

Từ núi Tam Điệp, đèo Ba Dội đi xuống không xa là đền Sòng và đền Chín Giếng, nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Cửu Thiên Huyền Nữ (Cô Chín Giếng, Cô Chín).

Đền Sòng (Sòng Sơn) được khởi dựng từ bao giờ? Đến nay, chưa có khẳng định chắc chắn. Tuy nhiên, người dân địa phương vẫn lưu truyền câu chuyện về sự ra đời của ngôi đền.

Theo tích xưa, vào thời Lê Trung hưng, một ông lão người Cổ Đam được Tiên Chúa báo mộng về việc dựng đền. Theo lời báo mộng, vào một ngày đầu xuân, ông mang theo cây gậy tre đến khu vực đền Sòng ngày nay. Thấy địa thế bằng phẳng, lại có dòng suối nước mát lành chảy qua, tin đây là vùng đất tốt nên ông lão cắm cây gậy tre xuống, khấn nguyện: “Nếu gậy tre tươi tốt, chúng con sẽ chọn nơi này làm đất để lập đền phụng thờ Tiên Chúa”.

Kỳ lạ thay, không lâu sau, cây gậy tre nảy lá, đâm măng xanh tốt. Tin rằng Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã hiển linh, dân làng cùng nhau góp sức dựng đền. Từ đó, với niềm tin vào sự linh ứng và phù trợ của Thánh Mẫu, đền Sòng qua bao thế hệ vẫn là chốn dừng chân của người dân và du khách trên hành trình ra Bắc, vào Nam.

Cách đền Sòng một quãng ngắn là đền Chín Giếng, nơi gắn với những thần tích về Cô Chín Giếng được lưu truyền trong dân gian. Theo truyền thuyết, trong cuộc giao tranh giữa Tiền Quân Thánh và chúa Liễu Hạnh tại Sòng Sơn, sau khi gặp nạn, Tiên Chúa đã đến nương náu nơi Cửu Thiên Công Chúa (Cửu Thiên Huyền Nữ) ngự. Nhờ được Cửu Thiên Huyền Nữ che chở, lại được Phật Bà Quan Âm cứu giúp nên Tiên Chúa thoát nạn. Để tưởng nhớ công đức của Cửu Thiên Huyền Nữ, người dân lập đền thờ Cô bên cạnh chín giếng thiêng. Ngôi đền được đặt tên đền Cô Chín, hay đền Cô Chín Giếng.

Những thần tích, truyền thuyết huyền ảo đã góp phần bồi đắp đời sống tín ngưỡng của người dân địa phương. Qua thời gian, tín ngưỡng thờ Mẫu cùng sự kính ngưỡng dành cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Cô Chín vẫn được gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ.

Hằng năm, vào ngày 26 tháng 2 âm lịch, trong dịp chính hội đền Sòng Sơn, một nghi lễ quan trọng được duy trì là rước kiệu Thánh Mẫu Liễu Hạnh từ đền Sòng sang đền Chín Giếng, lên Nhà bia Ba Dội rồi mới trở về. Bà Trần Thị Hoa, tổ dân phố 14, phường Quang Trung, chia sẻ: “Tín ngưỡng thờ Mẫu cùng sự kính ngưỡng dành cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Cô Chín Giếng đã trở thành nét đẹp văn hóa lâu đời, thấm sâu vào đời sống tín ngưỡng của người dân địa phương”.

Về với vùng đất cửa ngõ xứ Thanh, lên núi Tam Điệp, dừng chân ở Nhà bia Ba Dội, đền Sòng Sơn, đền Chín Giếng..., du khách không chỉ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp mà còn có dịp hiểu hơn những lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng ở vùng đất này. Giữa không gian núi non hùng vĩ và chốn thờ tự linh thiêng, ta lắng lòng mình, thành kính hướng về Phật, Thánh, gửi gắm ước mong về những điều tốt đẹp.

(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Địa chí Bỉm Sơn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020; Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, NXB Thanh Hóa, 2000).

Bài và ảnh: Khánh Lộc



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]