Chiếc chõ đồ xôi của mế
Tôi gặp mế là người dân tộc Thái trong phiên chợ Mường Xia, xã Sơn Thủy vào một buổi sáng chủ nhật còn vương hơi sương. Trước mặt mế là vài chiếc chõ đồ xôi đan bằng tre luồng, màu vàng nâu óng ánh. Thấy tôi dừng lại, mế mỉm cười, nâng một chiếc chõ lên giới thiệu với người khách lạ. Nụ cười của mế hiền trong nắng mai.

Bà mế bán “Ắn nửng” trong phiên chợ Sơn Thủy.
Ở miền núi Thanh Hóa, tre luồng là loài cây quen thuộc, lớn lên trên những sườn đồi, rồi theo năm tháng trở thành nguyên liệu để người Thái, người Mường và nhiều cộng đồng dân tộc khác làm nên biết bao vật dụng gắn bó với đời sống, trong đó có chiếc chõ đồ xôi.
Qua đôi bàn tay khéo léo, những nan tre được chẻ mỏng, vót đều rồi đan khít thành chiếc chõ bền chắc. Mỗi đường đan đều mang theo sự kiên nhẫn, kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác.
Chiếc chõ của mế được đan hoàn toàn bằng tre già. Trong tiếng Thái, chiếc chõ gọi là “Ắn nửng”, còn nồi dùng để đun nước tạo hơi đồ xôi gọi là “niểng”. Thân chõ có hình trụ, các nan tre đan đều thành những đường vân chéo chắc chắn mà đẹp mắt. Miệng chõ được viền bằng vành tre uốn tròn, cố định bằng sợi mây. Nắp chõ được đan khít với miệng để giữ trọn hơi nóng.

Chiếc chõ là vật dụng quen thuộc trong gian bếp của đồng bào dân tộc Mường, Thái...
Điều khiến tôi nhớ nhất không phải là hình dáng chiếc chõ mà là cách mế ôm nó. Mế ôm chiếc chõ ngang ngực, không cầm hờ cũng không đặt xuống đất. Cái ôm ấy giống như người ta bế một đứa cháu, hay nâng niu một vật thân thuộc đã gắn bó cả đời.
Chỉ một cử chỉ rất tự nhiên thôi cũng đủ nói lên sự gắn bó giữa con người và vật dụng giản dị ấy.

Chiếc chõ đồ xôi của người Mường làm bằng nan tre hoặc bằng gỗ. Ảnh tư liệu
Từ lâu, chiếc chõ đã hiện diện trong gian bếp của nhiều cộng đồng dân tộc nơi miền Tây xứ Thanh. Chiếc chõ nhỏ bé ấy theo con người đi qua biết bao dấu mốc của cuộc đời. Ngày tết trong mâm cúng tổ tiên không thể thiếu đĩa xôi nếp thơm dẻo. Trong lễ cưới, xôi là biểu tượng của sự đủ đầy, gắn kết. Trong ngày mừng lúa mới, hạt nếp đầu mùa cũng được đồ bằng chiếc chõ quen thuộc. Có lẽ vì thế mà ở nhiều gia đình vùng cao, dù căn bếp đã có nồi cơm điện hay xửng hấp bằng inox, chiếc chõ tre vẫn được treo cẩn thận trên gác bếp.

Từ chiếc chõ, những hạt xôi thơm dẻo, sắc màu đánh thức vị giác con người.
Rời Mường Xia, tôi vẫn nhớ nụ cười nhuộm răng đen của mế. Nhớ đôi bàn tay của mế đã đi qua biết bao mùa lúa, gầy guộc, gân guốc vì năm tháng, nhưng khi nâng chiếc chõ lại vô cùng nhẹ nhàng và nâng niu. Chiếc chõ mế mang xuống chợ không chỉ là một sản phẩm thủ công. Đó còn là một phần nếp sống của bản làng. Có lẽ mế chưa bao nghĩ mình đang gìn giữ một giá trị văn hóa lớn lao. Mế chỉ làm công việc đã gắn bó với cuộc đời mình, rồi mang xuống chợ những gì mình có. Chính sự giản dị ấy lại khiến tôi xúc động.
Ở phiên chợ hôm ấy, mế cũng giống như bao người khác. Có người mang bó măng vừa hái trong rừng, có người gùi mớ rau mới cắt trên nương hay chiếc bánh ít, bánh ú vừa đồ. Mỗi người đem đến chợ không chỉ là hàng hóa, mà còn là mồ hôi, công sức của những tháng ngày lao động. Vì thế, phiên chợ vùng cao chưa bao giờ chỉ là nơi mua bán. Đó còn là nơi sản vật của núi rừng gặp nhau, nơi người trong bản gặp lại nhau sau những ngày lên nương, nơi nhịp sống của bản làng chậm rãi hiện lên qua từng gùi hàng, từng câu chuyện.
Ở khắp những bản làng người Thái, người Mường nơi miền Tây xứ Thanh vẫn còn biết bao người phụ nữ như mế, ngồi giữa phiên chợ với đôi bàn tay đã chai sần và những chiếc chõ đan từ tre luồng. Tôi không biết rồi những chiếc chõ của mế sẽ theo chân ai về gian bếp mới. Cũng không biết lần sau lên chợ Mường Xia có còn gặp mế. Chỉ biết rằng, giữa những vật dụng hiện đại ngày một nhiều, chiếc chõ tre của mế vẫn gợi nhớ mùi khói bếp, hương nếp mới và một phần hồn cốt của bản làng miền núi.
Ngọc Huấn
{name} - {time}
-
2026-07-11 16:42:00Để những cánh rừng mãi xanh
-
2026-07-11 14:38:00Về hồ Yên Mỹ mượn bờ vai xanh
-
2026-07-11 12:07:00Thắp lửa đam mê nghiên cứu trong trường học






