(vhds.baothanhhoa.vn) - "Con đường như dải Ngân Hà/ Chúng tôi ngày ấy mở qua bầu trời/ Sao là đồng đội của tôi/ Tụ về đây suốt một thời trẻ trung/ Sức xuân như sức dòng sông/ Tháng ngày cuồn cuộn chảy trong con đường". Đó là những câu thơ mở đầu trong Trường ca “Đánh thức đại ngàn”, in trong tập “Trường ca Mạch đất hồn trống đồng” (NXB Thanh Hóa, 2022). Ít ai biết rằng, tác giả của những câu thơ ấy từng là lính Thanh niên tình nguyện (TNTN) 42-12 (nay là Đội Thanh niên xung phong N42-P37), trực tiếp tham gia mở tuyến đường biên giới Hồi Xuân - Tén Tằn dài 112km và đường Nam Động - Lốc Toong dài 17km trên tuyến biên giới Việt - Lào giai đoạn 1977-1981.

Có một nhà thơ trong “Đường Cổng Trời huyền thoại”

“Con đường như dải Ngân Hà/ Chúng tôi ngày ấy mở qua bầu trời/ Sao là đồng đội của tôi/ Tụ về đây suốt một thời trẻ trung/ Sức xuân như sức dòng sông/ Tháng ngày cuồn cuộn chảy trong con đường”. Đó là những câu thơ mở đầu trong Trường ca “Đánh thức đại ngàn”, in trong tập “Trường ca Mạch đất hồn trống đồng” (NXB Thanh Hóa, 2022). Ít ai biết rằng, tác giả của những câu thơ ấy từng là lính Thanh niên tình nguyện (TNTN) 42-12 (nay là Đội Thanh niên xung phong N42-P37), trực tiếp tham gia mở tuyến đường biên giới Hồi Xuân - Tén Tằn dài 112km và đường Nam Động - Lốc Toong dài 17km trên tuyến biên giới Việt - Lào giai đoạn 1977-1981.

Có một nhà thơ trong Đường Cổng Trời huyền thoại

“Trường ca Mạch đất hồn trống đồng” dài hơn 10.000 câu thơ, ngợi ca đất và người xứ Thanh trong suốt dặm dài lịch sử dân tộc. Ảnh: Bảo ANH

Tốt nghiệp Trường Sư phạm 10+3 Thanh Hóa năm 1975, hai năm dạy học ở quê, tháng 6/1977 ông được điều lên dạy Bổ túc Văn hóa ở Đội TNTN 42-12. Những năm tháng ấy, ông có mặt trên hầu khắp các cung đường Hồi Xuân - Tén Tằn và Nam Động - Lốc Toong, sống, lao động và chia sẻ mọi gian khó cùng đồng đội.

Trong Trường ca “Đánh thức đại ngàn”, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm viết về Người Chỉ huy Tiền phương: “C (xê) nọ báo cáo Thủ trưởng/ C kia báo cáo Thủ trưởng!/ Các C ở chòm Bất, chòm Đe không còn hột gạo/ C Trưng Vương, C Quang Trung hết gạo từ lâu/ Không đủ thuốc mìn cho vách núi chòm Toong/ Báo cáo Thủ trưởng!/ Nửa đêm sạt đồi ki-lô-mét sáu tư/ Vùi gần hết lán C 3, C 8/ Đẩy xuống vực mất hai dãy lán/ Bếp anh nuôi không còn lại thứ gì/ Báo cáo Thủ trưởng!/ Hơn nửa C 7 tự nhiên sốt rét/ Đơn vị không còn người khiêng cáng/ Y tá, y sĩ khắp nơi đã được điều động đến/ Nhưng sốt rét vẫn tiếp tục gia tăng/ Báo cáo Thủ trưởng!/ Nguyễn Thị Định, A Trưởng, C 5/ Đang trên đường về đơn vị để kết nạp Đảng/ Bị lũ suối Táo cuốn trôi/ Nữ C 9 tự nhiên cả loạt rú cười/ Cười đến mức điên cuồng rũ rượi/ Báo cáo Thủ trưởng/ Hơn sáu mươi vạn khối đất ở Pù-hin-hại/ Bất ngờ ầm ầm ập xuống lòng thung/ Hai C đang trên tuyến thi công/ Máy ủi máy lu bị đất xô xuống vực/ Báo cáo Thủ trưởng/ Lũ ống đột ngột về, ba nữ bị cuốn trôi/ Đồn Công an 37 cứu được hai người/ Báo cáo Thủ trưởng/ Pù Nhi mưa đá/ Tất cả các C không lán nào lành”.

Chỉ một đoạn trường ca đã tái hiện gần như nguyên vẹn hiện thực khắc nghiệt của những năm tháng mở đường: thiếu gạo, thiếu thuốc nổ, sốt rét, lũ quét, sạt lở, đồng đội hy sinh... Những chi tiết ấy không chỉ được viết bằng ký ức mà còn bằng chính trải nghiệm của người trong cuộc.

Một lần tôi gặp nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm ở Trại viết do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân mở. Ông khoe luôn: “Mình sẽ hoàn thành tập sách nói về những tháng năm cùng đội TNXP đi mở đường Hồi Xuân - Tén Tằn. Lần trước mình đã đọc cho ông nghe một đoạn đấy”. Nói rồi ông chợt trầm ngâm: “Bốn mươi năm đã trôi qua. Mình mắc nợ anh chị em TNXP lâu quá”.

Và ông đã trả "món nợ” ấy bằng hai tác phẩm: “Đường Cổng Trời huyền thoại” (Ký) và Trường ca “Đánh thức đại ngàn” trong tập “Mạch đất hồn trống đồng”. Đó không chỉ là những trang viết về một con đường, mà còn là sự tri ân đối với đồng đội và một thời tuổi trẻ đã gửi lại giữa đại ngàn biên cương. Những câu thơ trong trường ca ấy như được chảy ra từ máu thịt ông, nhịp tim ông: “Tôi chưng cất thịt da mình/ Chảy trên mặt giấy hiện thành ngày xưa/ Chữ nào còn khuất trong mưa/ Chữ nào trầm tích vọng chưa thành lời/ Chữ nào năm tháng đánh rơi/ Chữ nào đá lở sông trôi sấm rền/ Chữ nào không tuổi không tên/ Đồng đội ơi hãy nhìn lên bầu trời”. Đọc trường ca, người đọc cảm nhận rõ một điều: tác giả không đứng ngoài để kể lại quá khứ, mà đang sống lại cùng quá khứ ấy. Hình ảnh người TNXP, hình ảnh con đường tái hiện sinh động, gian khổ, khốc liệt, đầy sức sống qua từng con chữ: “Chúng tôi như sóng vỗ vào nhau/ Chúng tôi làm sóng thần giữa đại ngàn hùng vĩ/ Lúc nào cũng sôi lên sùng sục/ Cứ huầy dô khi hổ rượt gấu vồ/ Cứ huầy dô khi ong lỗ đốt/ Cứ huầy dô khi lợn rừng nhay/ Cứ huầy dô khi cây đè nứa xọc/ Cứ huầy dô khi đá cuốn đất vùi”. Điều kỳ diệu là, càng kham khổ, càng khốc liệt, hình ảnh người TNXP 42-12, hình ảnh con đường Hồi Xuân - Tén Tằn càng ngời sáng, càng đẹp: “Gió buộc gió mà chúng tôi đứng vững/ Nắng dãi nắng mà chúng tôi thành quả chín/ Mưa dầm mưa mà chúng tôi tỏa hương thơm lựng/ Sương tẩm sương mà chúng tôi thành đôi cánh đại bàng/ Khắc nghiệt nối khắc nghiệt mà chúng tôi thành sắt thép/ Bụi trong bụi mà chúng tôi thành Sơn Tinh, Thánh Gióng/ Tầm vóc chúng tôi sừng sững một con đường”.

Trở về từ Mường Lát, người giáo viên trẻ ngày nào liên tục đứng lớp cho đến khi nghỉ hưu và ông vẫn giữ nguyên sự hăng hái của mình, câu chuyện mở đường dường như còn “nóng hổi” trong ký ức. Quá khứ luôn cho ta niềm tự hào nhưng quá khứ cũng là lời nhắc nhở chân thành nhất, hữu ích nhất. Như những câu thơ “Tim mình xé đặt lên môi/ Âm âm rừng vọng những lời thẳm sâu/ Lời này nhói một nỗi đau/ Lời này thiêu đốt một màu tóc xanh/ Lời này úa lá trên cành/ Lời này nắng rụng xuống vành trăng non/ Lời này muối sát hoàng hôn/ Lời này buốt tiếng gọi hồn gần xa/ Nén đằng sau mỗi cánh hoa/ Bao nhiêu tâm chấn vỡ ra sóng thần/ Chạm vào vụn đất dưới chân/ Bao nhiêu khuôn mặt người thân hiện về” (Bài thơ Đối thoại ở rừng).

Ông sống cùng đồng đội lúc “Củ sắn thay cơm/ Áo phòng hộ đá cào gai xoạc/ Giày ba ta bật đế bật mui/ Da khô vảy rắn/ Nước mó nước khe phải uống cầm chừng/ Nắm gạo nhỏ dành cho người ốm/ Chưa bao giờ chúng mình lùi bước trước khó khăn/ Chưa bao giờ đắn đo sợ hãi/ Vẫn treo mình trên chót vót núi cao/ Đục hốc mìn/ Nhồi thuốc mìn/ Đốt mìn/ Có khi dây an toàn bị đứt vì đá sắc/ Lao từ vách núi xuống lòng thung/ Toàn thân bầm dập/ Lạ kỳ thay/ Sứt miệng sứt môi vẫn hát vẫn cười” (Đánh thức đại ngàn). Ông đau buốt khi đồng đội hy sinh. Tiếng ông gọi vọng qua năm tháng: “Tràn ơi!/ Hương ơi!/ Dũng ơi!/ Đồng đội gọi các em xuyên qua mùa hạ/ Gọi các em xuyên qua mùa đông/ Gọi các em từ khe từ suối/ Gọi các em từ cây vầu cây nứa/ Gọi các em trong sắc trắng hoa ban/ Gọi các em trong sắc đỏ hoa đào/ Gọi các em trong sắc hoa bìm tím/ Gọi các em trong sắc mai vàng” (Đánh thức đại ngàn).

Hồi đó, lao động mở đường chủ yếu là lao động thủ công. “Khắc nghiệt. Khốc liệt. Gian khổ. Bệnh tật. Đói. Rét. Khát. Ấy thế mà không một ai đào ngũ. Không một ai trốn đơn vị. Không một ai bị gửi giấy về địa phương vì kỷ luật này, kỷ luật nọ. Đói vẫn hát. Xanh xao vẫn hát. Tôi mang băn khoăn ấy tâm sự với ông Trần Lê Vang, người Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của hơn ba nghìn đoàn viên Đội TNTN 42-12, ông trả lời với nhiều ngẫm ngợi, chỉ có thể lý giải bằng sức trẻ, khao khát cống hiến của tuổi trẻ, niềm tự hào kiêu hãnh của tuổi trẻ, danh dự của tuổi trẻ. Chế độ xã hội chủ nghĩa đã sản sinh ra một thế hệ vàng trong chống Mỹ và một thế hệ vàng sau chống Mỹ. Vàng thật sự. Vàng từ ý nghĩ đến việc làm. Vàng từ phẩm chất đạo đức đến cống hiến và hưởng thụ. Xấu hổ nhất là kém người khác. Xấu hổ nhất là mang tiếng tự tư, tự lợi. Công việc là trên hết. Thể hiện năng lực là trên hết. Chỉ có thế mới giải thích được tại sao mấy nghìn thanh niên mà không một ai bị tật này, tật nọ. Chỉ có thế mới giải thích được vì sao hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, hết công trường này đến công trường khác mà không một ai kêu ca chán nản”.

Đúng như những câu thơ mà nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm đã viết: “Chúng tôi như lá cây rừng/ Một làn gió cả điệp trùng tiếng reo/ Chạm vào một tiếng ve kêu/ Mồ hôi vọng dội bao nhiêu tháng ngày/ Chạm vào ngọn cỏ cành cây/ Bao nhiêu sông suối dâng đầy ngày xưa/ Rừng già giục gọi rừng thưa/ Từ trong khuất lấp nắng mưa hiện về/ Khổ kham khi tỉnh khi mê/ Chúng tôi cứ rót tràn trề sang nhau/ Rót tràn vực thẳm khe sâu/ Rót tràn nắng gió đẫm màu thịt da/ Rót tràn mỗi đỉnh núi qua/ Máu trong nhật ký làm hoa tặng người/ Bao nhiêu sức tuổi hai mươi/ Chúng tôi rót cả ra nuôi mặt đường”.

Con đường Hồi Xuân - Tén Tằn cùng con đường Nam Động - Lốc Toong, những năm tháng mở đường đã sản sinh ra nhà thơ, nhà văn Nguyễn Minh Khiêm. Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm đã chắp cánh cho đường, đã thăng hoa con đường. Đọc “Đánh thức đại ngàn”, đọc “Đường Cổng Trời huyền thoại” ta thấy sức sống, ước mơ, khát vọng, sức sáng tạo, sức vươn, sức bật của tuổi trẻ xứ Thanh, ta thấy một miền Tây Thanh Hóa hùng vĩ, chuyển mình. Một vùng đại ngàn nghìn năm được đánh thức. Ta thấy một con đường huyền thoại. Và ta thấy một nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm lấp lánh trong con đường huyền thoại ấy.

Nguyễn Trọng Văn (CTV)



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]