Tiếng khánh đá làng Nhuệ Thôn
Núi Ngưỡng Sơn vốn quanh năm chỉ thấy có mây bay chim đậu, hoang vu tịch mịch bỗng hôm nay tưng bừng những cờ hoa kèn trống, trên bến dưới thuyền đều neo đậu kín mít từ mờ sương. Trong trai phòng rộng lớn Thái úy Lý Thường Kiệt ngồi đối ẩm cùng Đại sư Giác Hải, là người đã theo ông vào vùng đất này từ buổi ban đầu. Vuốt chòm râu đã bạc, Lý Thường Kiệt mãn nguyện ngắm nhìn dòng người đang nườm nượp tiến vào sân chùa mà lòng trào dâng một niềm vui khó tả. Thế là cái ước nguyện đầu tiên của ông đã hoàn thành.

Minh họa: Duy Anh
Sau khi được hoàng thượng chấp nhận nguyện vọng, Lý Thường Kiệt lui về sống những ngày cuối đời tại nơi phụ thân ông đã nằm lại trong thời gian ông đi kinh lý phương Nam dưới thời vua Lý Thái Tông, đó là xứ Thanh Hóa.
Vâng lệnh triều đình đi trấn thủ xứ Thanh Hóa, ông đã chọn tổng Ngọ Xá(1) làm nơi thọ thân, và cho xây dựng Lương Mục đường để vừa ở vừa làm việc. Những lúc rảnh rỗi Lý Thường Kiệt thường cùng đám thuộc hạ đi thăm thú khắp nơi trong vùng. Tổng Ngọ Xá nằm bên bờ sông Nam Thạc(2), một vùng non xanh nước biếc, sông núi đan xen, cảnh như tranh vẽ, nhưng xem ra dân vẫn còn nghèo lắm. Trong thôn, ngoài xóm hầu như toàn những mái nhà tranh lụp xụp, phên nứa tường đất sơ sài, rất ít những căn nhà gỗ, mái ngói âm dương. Nghe các vị trưởng lão trong làng cho biết, dân ở đây thường chỉ sống bằng nghề nông, mà nghề nông vùng trũng “chiêm khê, mùa thối” nên thường xuyên mất mùa, vào lúc giáp hạt thì lại lên núi đào củ mài, bẫy thú, hoặc đánh bắt những thủy vật dưới sông ăn tạm qua ngày. Trong làng chỉ thấy có người già, đàn bà và trẻ nhỏ. Nghe vậy, Thái úy bỗng thấy lòng se lại như gặp phải cơn trái gió trở trời. Té ra những năm ông chinh chiến gặt hái bao nhiêu chiến công, thu về cho đất nước bao nhiêu của cải đất đai, nhưng thực sự người dân đã được hưởng gì sau những vinh quang của ông, hay họ đang phải chịu cảnh thiếu thốn trăm bề vì phải liên tục cống nạp cho quân đội triều đình, phải chịu cảnh chia lìa tang tóc khi mất đi những người thân là trụ cột gia đình.
Thiền sư Sùng Tín, một vị trưởng lão thân tín cũng là thầy dạy học của Thái hậu Linh Nhân, đã được Thái hậu tin tưởng giao cho việc đi thuyết giáo và tìm địa điểm xây chùa tại nơi Lý Thường Kiệt an cư. Hôm đó trời trong, mây lặng, hai thầy trò dong thuyền ngược lên cửa Phấn Đại(3) vừa đi, vừa ngắm cảnh trên núi, dưới sông.
Nhìn thấy một ngọn núi nằm chơ vơ, xung quanh là dòng nước chảy lững lờ êm đềm như một dải lụa vắt quanh chân núi, ông theo lối tắt trèo lên núi. Hỏi ra mới biết đây là núi Ngưỡng Sơn. Ngọn núi chỉ cách quận lỵ chừng năm dặm, ngay bên bờ sông Nam Thạc, bên kia sông là làng xóm đông đúc, núi không có vách đứng, nhất là lại nằm trên con đường huyết mạch giao thông đường thủy, thuyền bè qua lại từ Bắc vào Nam đều phải đi qua con sông này. Nghĩ vậy ông tâm đắc nói với vị trưởng lão: Ta sẽ chọn nơi này làm vị trí xây chùa. Vị trưởng lão còn đang băn khoăn chưa kịp trả lời ra sao thì Thái úy đã bảo rằng: Cái mà kẻ trí người nhân ưa thích là núi là sông, cái mà thế đại lưu truyền là danh là đạo. Nếu mở núi mà làm cho “đạo” và “danh” rạng rỡ thì không đáng quý hay sao. Vả lại nếu dựng chùa ở núi này, dưới chân núi dựng các đình nhỏ, thuyền bè có thể dừng chèo ghé vào nghỉ tạm, mà các nước lân bang từ xa tới cũng có thể ngắm nhìn mà quy phục.
Tìm được vị trí đắc địa rồi, Lý Thường Kiệt nhanh chóng bắt tay ngay vào việc xây dựng. Ông cho phát cỏ rậm, bạt đá to, mời thầy phong thủy về xem phương, định hướng, tìm thợ giỏi để định kiểu dáng, huy động quan thuộc góp tiền, sĩ dân đổ sức. Ai sức yếu thì bào gọt, ai sành nghề thì dựng thì xây. Chẳng mấy chốc ngôi chùa đã thành hình, và chỉ sau 4 năm xây dựng ngôi chùa đã được tọa lạc uy nghi trên ngọn núi cảnh sắc như chốn bồng lai tiên cảnh.
Chuông chiều đổ một hồi dài vang xa như thức tỉnh con người thoát khỏi cõi mê, trở về miền cực lạc. Hội đã vãn, lác đác dưới bến sông chỉ còn những con đò đang cắm sào nghỉ lại qua đêm. Mâm cơm chay được dọn ra trong trai phòng dành riêng cho Thái úy và Đại sư, chỉ có đĩa rau lang luộc, một bát muối vừng và vài món chay do các ni sư và các phật tử chế biến khéo léo. Vừa bưng bát cơm lên tay, bỗng Thái úy dỏng tai lắng nghe trong không gian như có một âm thanh gì rất lạ, không phải tiếng chuông đồng, không phải tiếng gió rừng len qua hàng chuông bạc, không phải tiếng nước chảy trong khe đá trên núi, mà như là tất cả, trong vắt và trầm đục, ngân nga và vang vọng. Thái úy bèn cho gọi thuộc hạ vào hỏi xem cái âm thanh đó phát ra từ đâu. Thuộc hạ vội chắp tay tâu:
- Bẩm Thái úy, đó là tiếng của chiếc khánh đá do một phật tử trong vùng cung tiến ạ.
- Vậy ư, hãy đưa ta đi xem chiếc khánh đó.
Thái úy cùng vị Đại sư vội vã bỏ lại mâm cơm hối hả đi theo thuộc hạ. Vừa mới nhìn chiếc khánh đá Thái úy đã thốt lên trầm trồ. Chiếc khánh đá chỉ to bằng chiếc nia, hình dáng như con chim ưng xòe cánh. Khánh đá đẽo gọt còn sơ sài, không có họa tiết hoa văn cầu kỳ nhưng sắc đá thì óng ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt, đánh lên tiếng ngân vang như chuông, trên đỉnh khánh có lỗ để treo khánh, nhưng vì nhà chùa chưa kịp làm cột trụ để treo nên còn đặt tạm trên một tấm phản lớn. Thái úy lấy tay vỗ nhẹ lên mặt khánh, âm thanh trầm bổng vang lên. Thái úy vô cùng thích thú, hỏi vị sư trụ trì:
- Phật tử đã cung tiến khánh đá cho nhà chùa, người ở đâu ta?
Vị sư trụ trì bèn giở sổ sách đã lưu rồi quay ra đáp:
- Dạ bẩm Thái úy, là người làng Nhuệ Thôn, cách quận lỵ cũng không xa lắm đâu ạ.
- Được, vậy thì ta sẽ đến thăm nơi đó.
Sau khi đã chuẩn bị hành trang chu đáo Thái úy Lý Thường Kiệt cho gọi một thị giả là giáp thủ Vũ Thừa Thao, người hương Cửu Chân hộ tống ông đi đến làng Nhuệ Thôn để tìm thứ đá quý đó.
Làng Nhuệ Thôn(4) là một thung lũng nằm giữa “vương quốc đá”, những khối đá to đá nhỏ như xếp chồng lên nhau tạo nên những ngọn núi cao chót vót. Có những tảng đá đen như gỗ mun, lại có tảng trắng xóa như mây, có ngọn núi còn thấy cả những khối đá xanh biếc, có vân óng ánh như lân tinh. Quả là một vùng đá quý hiếm vào bậc nhất trong nước mà Lý Thường Kiệt từng biết. Nhưng qua mấy ngày thăm dò hỏi han người dân trong làng, ông mới biết người dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề nông, một số ít gia đình có người làm nghề đục đẽo đá, song họ cũng chỉ làm những dụng cụ thô sơ như cối, chày giã gạo... Chỉ vài hộ là có tay nghề tinh xảo hơn mới làm khánh, bia đá hay làm vũ khí. Nhưng việc giao thương sản phẩm bằng đá còn rất ít ỏi. Thật đáng tiếc cho một vùng nguyên liệu vô giá lại bị bỏ phí hoài.
Trở về quận lỵ, ông thao thức mấy đêm liền. Phải làm sao cho dân bớt khổ. Về làm tổng trấn xứ Thanh đã mấy năm ông rất chú ý đến việc sản xuất nông tang ở địa phương. Ông biết rõ “dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc”, nên ông rất chăm lo đến mùa vụ, tưới tiêu, đào nhiều kênh mương để dẫn thoát nước ở những vùng trũng và vùng hạn... Mấy năm liền trấn Thanh Hóa không bị mất mùa. Ngay cả vấn đề về đất đai ông cũng rất quan tâm làm sao để dân không bị thiệt thòi, ông hiểu được với người nông dân đất đai là sinh mạng của họ. Chính ông đã từng thân chinh đến giáp Bối Lý giải quyết việc tranh chấp đất đai cho hai nhà họ Thiều và họ Tô một cách công bằng, thỏa đáng, khiến họ vô cùng cảm kích phấn khởi yên tâm cày cấy trên thửa ruộng của mình.
Trằn trọc đã mấy canh giờ mà vẫn chưa ngủ được, bỗng ông sực nhớ đến người đàn ông ở làng Nhuệ mà ông đã tìm gặp. Người đàn ông có khuôn mặt khắc khổ da ngăm đen, được dân trong vùng tôn làm bậc sư phụ của nghề đục đá. Ông đã già, nhưng đôi bàn tay vẫn rắn chắc và cứng như đồng hun. Đặc biệt, ông có đôi mắt rất lạ, to và đen nhưng cái nhìn lại hoang hoải buồn. Bỗng Thái sư sực nhớ ra một điều gì đấy, ông bật dậy. Thôi đúng rồi, ông ta chính là một tù binh người Chăm. Những lần chinh phạt nước Chăm Pa để giữ yên bờ cõi phía Nam, ông đã thu về bao nhiêu chiến lợi phẩm cho triều đình, trong đó có cả những người Chăm, họ là những quân sĩ bị thua trận, là những nô tỳ trong cung của đế chế bị thất thủ. Sau khi bị bắt làm tù binh, họ thường được đưa về những vùng đất hẻo lánh, được cấp đất đai nhà cửa để sinh sống, dần dần hình thành những làng người Chăm và họ được hưởng mọi quyền lợi như người Việt. Dân Nhuệ Thôn có lẽ cũng là một làng như vậy, chính vì thế họ đã đem nghề đục đá của vùng Chiêm Động(5) xứ Chăm đến xứ Thanh này chăng?. Vậy thì ông sẽ biến làng này trở thành một nơi chuyên nghề đục đẽo đá tinh xảo phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt và cải thiện đời sống. Nghĩ vậy, ông lại thấy lòng nhẹ bẫng như đang trên chín tầng mây, định nằm xuống kiếm một giấc ngủ ngon lành thì đã nghe tiếng gà gáy canh năm dồn dập vẳng đến, nhìn ra bên ngoài trời đã hửng sáng.
Việc đầu tiên mà Lý thường Kiệt nghĩ đến là phải tìm kiếm những người Chăm có nghề đục đá trong trấn về truyền nghề cho lớp con cháu ở Nhuệ Thôn. Trấn Thanh Hóa vốn là vùng đất mà các tù binh Chăm được triều đình cho sinh sống cùng người dân bản địa. Những người này sẽ được cấp lương thực, và ngay cả đất đai nếu muốn sinh cơ lập nghiệp ở chốn này. Làng Nhuệ nhanh chóng trở thành một vùng chuyên nghề đục đá, không những chỉ chế tác những phẩm vật thô sơ mà còn cả những phẩm vật tinh xảo cung tiến triều đình được nhà vua và Linh Nhân Thái hậu vô cùng hài lòng. Đá ở núi Nhuệ thì vô cùng vô tận, người dân Nhuệ Thôn lại cần cù chịu khó nên chẳng mấy chốc mà làng này đã trở nên một vùng sầm uất, đông đúc, nhiều người ở các nơi cũng đổ về đây sinh cơ lập nghiệp, tạo nên một vùng dân cư trù phú nổi tiếng với nghề khai thác và chế tác đá. Ngoài việc tạo nên một làng nghề khai thác và chế tác đá, ông còn tìm cách kêu gọi các thương lái năng lui tới để đưa các sản phẩm đá đến mọi miền đất nước.
Từ sau vụ án của Lê Văn Thịnh, dù đã cứu được Thịnh khỏi tội chết, nhưng trong tâm Lý Thường Kiệt lại vẫn không yên. Ông luôn dằn vặt đau đớn vì không cách gì giữ lại được hai vị Thái sư tinh anh lỗi lạc của đất nước. Khi lui về trấn nhậm ở trấn Thanh Hóa ông cứ tưởng sẽ được thanh thản để một lòng hướng về cõi phật, nhưng việc đời vẫn cứ lôi kéo ông. Tuổi già khiến ông có nhiều việc muốn làm mà lực bất tòng tâm. Trấn Thanh Hóa sau gần 19 năm ông cai quản đã trở nên một vùng giàu mạnh, cây cối tốt tươi, người dân yên ổn, nghề đục đẽo đá ở làng Nhuệ Thôn cũng bắt đầu phát triển, dân kéo về đông đúc, những sản phẩm đá tinh xảo đã có mặt ở khắp nơi. Mới đây về quê dự lễ hội ông đã được nghe tiếng khánh đá của làng Nhuệ Thôn vang lên trên đất kinh thành như một hồi chuông vọng về từ cõi niết bàn.
Lý Thường Kiệt mất năm Ất Dậu 1105 tại quê nhà ở Kinh thành Thăng Long, sau khi ông thôi giữ chức Tổng trấn Thanh Hóa, vì tuổi già sức yếu. Hơn ba chục năm sau, năm 1138 người dân Thanh Hóa đã tự góp công góp của xây dựng ngôi đền thờ Lý Thường Kiệt để tưởng nhớ công lao của vị Thái úy. Đây là ngôi đền cổ nhất ở Thanh Hóa còn lại đến ngày nay, nằm bên bờ sông Lèn quay mặt ra hướng sông, trên núi Ngưỡng Sơn. Và cũng tại Nhuệ Thôn (làng Nhồi) người dân đã dựng nên ngôi chùa Báo Ân để tri ân công lao của ông trong việc mở mang nghề khai thác đá truyền thống của làng. Chùa được xây dựng năm Canh Thìn 1100, có văn bia ghi lại công lao sự nghiệp của Lý Thường Kiệt trên đất Thanh Hóa.
(1) Tổng Ngọ Xá: Nay thuộc xã Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
(2) Sông Nam Thạc: Tức sông Lèn ngày nay.
(3) Cửa Phấn Đại: Cửa vào dòng sông Mã.
(4) Làng Nhuệ Thôn: Làng Nhồi.
(5) Chiêm Động: Thuộc TP Đà Nẵng ngày nay.
Truyện ngắn của Nguyễn Cẩm Hương (CTV)
{name} - {time}
-
2026-06-25 10:40:00“Giải bài toán cảm xúc” bằng văn chương
-
2026-06-23 15:29:00Về “Xứ Thanh tôi” - một lời mời trang trọng
-
2026-06-21 10:26:00Hoàng Quốc Cảnh: Nợ mãi một lời yêu






