(vhds.baothanhhoa.vn) - Tháng Tám về, quê tôi thường chín cùng những trái na. Ở làng Hà Nữu, Quảng Chính, Thanh Hóa, những ngày này, đi qua những vườn cây, dễ bắt gặp những trái na đang “mở mắt”. Vỏ xanh xù xì hé những đường trắng, để lộ từng múi quả ngọt lành. Mùi na chín quyện trong nắng cuối hè, đánh thức một miền ký ức đã xa. Tôi nhớ về ông nội - ông Lê Xuân Phượng, người làng vẫn quen gọi là ông Bản Châm. Và tôi nhớ một cây na. Ông trồng cây ấy sau ngày trở về.

Mùa na tháng Tám

Tháng Tám về, quê tôi thường chín cùng những trái na. Ở làng Hà Nữu, Quảng Chính, Thanh Hóa, những ngày này, đi qua những vườn cây, dễ bắt gặp những trái na đang “mở mắt”. Vỏ xanh xù xì hé những đường trắng, để lộ từng múi quả ngọt lành. Mùi na chín quyện trong nắng cuối hè, đánh thức một miền ký ức đã xa. Tôi nhớ về ông nội - ông Lê Xuân Phượng, người làng vẫn quen gọi là ông Bản Châm. Và tôi nhớ một cây na. Ông trồng cây ấy sau ngày trở về.

Mùa na tháng Tám

Nhà ông Nguyễn Đức Thuần - Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh tại thôn Thạch Phương, xã Quảng Chính, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày trở về của ông mang theo câu chuyện của một thế hệ. Ông là chiến sĩ cách mạng - một cựu tù Chính trị kiên trung trong thời kỳ Tiền khởi nghĩa, từng làm công tác trên cương vị Trưởng ban diệt dốt, một trong những vị trí được cả xã hội đặc biệt quan tâm sau khi cách mạng tháng 8 thành công. Khi hoạt động cách mạng ông đã bị thực dân Pháp bắt giam, tù đày, tra tấn về tinh thần bằng những thủ đoạn hiểm độc; có lúc chúng dùng thuốc độc cho vào thức ăn, tìm cách hủy hoại ông từ từ.

Nhưng ông đã trở về. Điều tôi nhớ nhất là, sau những năm tháng ấy, ông không chọn sống với bóng tối của quá khứ. Ông tôi vẫn cuốc đất, trồng cây, làm vườn. Một cây na. Từ đôi bàn tay và một cơ thể gầy yếu từng chịu đựng tù đày, để một mầm sống được gieo xuống lòng đất quê hương. Cây lớn lên, ra hoa, kết trái. Ông cũng lặng lẽ trở về với cuộc đời bình dị.

Hà Nữu, xã Quảng Khê ngày ấy có một ngôi trường ngói đỏ khang trang nhất ở khu vực, nay là nơi xây dựng chùa Thiên Linh. Đó chính là ngôi trường ông đã dày công xây dựng. Tôi nghĩ, giữa cuộc đời ông, chi tiết ấy có một ý nghĩa thật đẹp. Người từng làm Trưởng ban diệt dốt lại góp sức dựng trường. Sau ngày đất nước giành được độc lập, cách mạng không chỉ là dựng cờ, giành chính quyền, mà còn là mở cánh cửa tri thức cho nhân dân. Ông đã dành tâm huyết cho công việc ấy, để trên mảnh đất của làng Hà Nữu, những đứa trẻ được học chữ, được mở mang hiểu biết, được lớn lên cùng một quê hương đang đổi mới hằng ngày. Có những công trình rồi sẽ không còn nguyên vẹn bởi thời gian. Nhưng những điều được gieo từ đó thì vẫn còn. Hà Nữu hôm nay vẫn có những địa chỉ khiến người ta nhớ về lịch sử. Nhà ông Nguyễn Đức Thuần - di tích lịch sử cách mạng. Giếng Chùa có từ thế kỷ XV, lặng lẽ nằm đó qua bao thế hệ.

Một ngôi nhà lưu dấu cách mạng. Một giếng nước lưu dấu thời gian. Một ngôi trường lưu dấu sự nghiệp khai dân trí. Và một cây na lưu dấu cuộc trở về của người chiến sĩ cách mạng. Những mạch ký ức ấy gặp nhau trên một miền quê. Ông tôi về già vui thú điền viên, làm thơ, làm thuốc cứu người. Tôi thích nghĩ về quãng đời ấy. Một con người từng đi qua nhà tù của kẻ thù, cuối cùng lại tìm phương pháp của người lương y để chữa lành những vết thương cho người khác. Một người từng đối mặt với cái chết, cuối cùng lại dành thời gian chăm cây. Một người từng góp sức đem con chữ đến với dân làng, cuối đời vẫn tìm niềm vui trong thơ ca, trong vườn tược, trong cuộc sống bình dị. Có lẽ đó chính là điều sâu xa nhất mà thế hệ như ông tôi đã để lại: chiến đấu không phải để tìm kiếm vinh quang cho riêng mình, mà để một ngày con người được sống một cuộc đời bình thường - được làm ruộng, dựng nhà, đi học, làm thơ, trồng cây và nhìn con cháu lớn lên trong hòa bình hạnh phúc.

Tháng Tám năm 1945, dân tộc ta đã làm nên một mùa thu như thế. Sau bao năm đấu tranh, hy sinh, Cách mạng Tháng Tám mở ra một kỷ nguyên mới. Ngày 2/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với chúng tôi hôm nay, đó là lịch sử. Nhưng với ông tôi và những người cùng thế hệ, lịch sử ấy từng là cuộc đời. Họ đã sống trong những ngày tháng không có quyền được lựa chọn sự bình yên. Họ phải lựa chọn giữa cúi đầu và đứng thẳng, giữa sợ hãi và niềm tin. Ông tôi đã chọn đứng thẳng. Và sau khi trở về, ông chọn gieo trồng. Có lẽ vì vậy mà cây na trong ký ức của tôi không chỉ là một cái cây. Nó là một biểu tượng nhỏ bé của sức sống. Cây đứng đó qua bao mùa mưa nắng, như một đời người đã đi qua bao giông bão mà không chịu khuất phục.

Mỗi mùa na chín, tôi lại hình dung đôi bàn tay ông ngày trước: bàn tay từng chịu tù đày, từng góp sức dựng trường, từng cầm bút làm thơ, bốc thuốc cứu người và cũng từng vun đất cho một mầm cây. Những trái na hôm nay có vị ngọt của đất. Nhưng trong ký ức của tôi, nó còn có vị ngọt của hòa bình.

Tháng Tám lại về. Cờ đỏ lại tung bay trên những con đường quê. Giếng Chùa vẫn lặng lẽ soi bóng trời. Những câu chuyện về những người đi trước vẫn được kể. Và đâu đó trong ký ức Hà Nữu, tôi vẫn thấy một người ông cúi xuống bên cây na sau ngày trở về. Ông không để lại cho con cháu một tượng đài bằng đá. Ông để lại một ngôi trường. Một mảnh vườn. Những bài thơ. Những phương thuốc cứu người. Và một cây na. Những thứ tưởng nhỏ bé ấy, qua thời gian, lại hóa thành ký ức lớn. Để mỗi mùa na tháng Tám, tôi hiểu thêm rằng: Độc lập không chỉ là một ngày được ghi trong lịch sử. Độc lập là những mùa quả ngọt mà bao thế hệ đã gieo bằng cả cuộc đời mình.

Lê Xuân Bính (CTV)


Lê Xuân Bính (CTV)

 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]