Tin liên quan
Đọc nhiều
Ngôi đền thiêng trên đỉnh Pom Kéo
Trên đỉnh Pom Kéo bên dòng sông Mã, ngôi đền thờ Thượng tướng Thống lĩnh quân Lò Khằm Ban vẫn đứng sừng sững như một minh chứng lịch sử. Từ chiến công hiển hách thời kháng Minh đến việc khai phá vùng đất mường Ca Da, câu chuyện về vị tướng tài ba và dòng họ Phạm Bá đã in đậm dấu ấn trong lòng người dân Hồi Xuân suốt hàng thế kỷ.

Toàn cảnh ngôi đền và bia ký lịch sử Lò Khằm Ban trên đỉnh Pom Kéo, xã Hồi Xuân.
Theo tài liệu “Phả hệ tổ tiên dòng họ Phạm Bá (Lo Căm) ở mường Ca Da” của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tiến – Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tuyên tổ của dòng họ Phạm Bá ở huyện Quan Hóa (cũ) là Tôn công Tướng quân Khằm Ban, còn có tên là Phạm Yếu, Phạm Ban. Ông sinh ra tại mường Bua - Sa, nơi có truyền thuyết là Na Sản, thuộc Mai Sơn, tỉnh Sơn La hoặc Mường Thanh.
Từ thuở thiếu thời, Khằm Ban đã nổi tiếng chăm học, giỏi võ, dáng người to cao, ngực rộng. Toàn thân ông xăm những hoa văn truyền thống, đôi tay rắn chắc, võ nghệ tinh thông vì thế người đời gọi ông là Chu Kha Lai theo cách phát âm của người Thái. Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại núi rừng Lam Sơn (nay thuộc xã Lam Sơn), lấy miền núi phía Tây Thanh Hóa làm hậu phương. Lời kêu gọi của Bình Định Vương vang xa tới châu Quan Hóa, thôi thúc nhiều trai làng gia nhập nghĩa quân, trong đó có Lò Khằm Ban.
Cánh quân của Khằm Ban được giao trấn giữ vùng Lũng Cú, Đồng Văn, Đồng Đăng, Kỳ Lừa – nơi biên giới giáp với phương Bắc. Ông chỉ huy mưu trí, đánh đâu thắng đó, liên tiếp lập công, đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước. Ông từng bắt sống tướng giặc Poóc Minh, lập cột đồng trụ ở Mao Lĩnh ghi dấu ranh giới giữa Việt Nam và nhà Minh. Nhờ chiến công hiển hách, ông được vua Lê phong hàm Thượng tướng Thống lĩnh quân.
Khi đất nước thái bình, vua cho phép ông chọn đất lập thái ấp. Trong hành trình tìm đất, đến cửa sông Lò (mường Ca Da), ông dừng chân nghỉ đêm tại Bãi Gian. Đêm ấy, ông mơ thấy mình tắm ở máng nước lớn, nước trắng xóa, rồi bị con rắn to quấn chặt, đó là điềm lành theo cách giải của các quan. Sáng hôm sau, từ đỉnh Múng Mường, ông quan sát: trước mặt là cánh đồng phì nhiêu, ba con sông Mã, Luồng, Lò hội tụ; phía Đông có dãy Pù Luông mây phủ quanh năm; phía Nam là Pha Cuốn, Pha Chùa, Pha Toóc; phía Tây là Pha Phụ, Pha Múng Mường... Tất cả như bức thành tự nhiên che chở, khí hậu mát mẻ, đất đai màu mỡ.
Ông chọn vùng đất này làm nơi đóng quân và lập thái ấp, cai quản chín động. Ông khảo sát địa thế, đào Con Poóng, mở đường, khai khẩn ruộng đồng, xây dựng làng bản, doanh trại, phân quân giữ các vị trí trọng yếu. Ông tiếp tục gìn giữ tên mường Ca Da và coi trọng việc thờ tự ở hai đền Pom Bá Ót và Pom Nang Úa.
Về việc các thế hệ con cháu đời sau của họ Lò Khằm đổi sang họ Phạm Bá, hiện chưa có nhà nghiên cứu nào khẳng định tính chính xác. Truyền thuyết kể rằng, Lò Khằm Ban chống lại vua Lào để giúp quân Lam Sơn. Sau này, để được yên ổn, mai danh ẩn tích, ông lấy họ Phạm theo họ của người bạn chiến đấu thân cận là Phạm Sát, thủ lĩnh Mường ở huyện Ngọc Lặc (cũ). Lò Khằm Ban nhiều tuổi hơn nên làm cành trên, gọi là bác, đổi thành Phạm Bá, còn Phạm Sát là cành chú nên đổi là Phạm Thúc.
Pom Kéo là gò đất cao nằm bên sông Mã, thuộc bản Chiềng Khằm xưa (nay là khu phố Khằm, xã Hồi Xuân). Tương truyền, vào thuở lập mường Ca Da, Pom Kéo cùng với Pom Đền, Pom Bá Ót, các gò đất nằm phía Nam mường Ca Da được ví như những kho báu và "mâm cơm” lộ thiên không bao giờ bị phạt mòn.
Khi Tướng quân Khằm Ban mất tại Mường Ca Da, nhân dân thương tiếc lập đền gỗ tại Pom Kéo để thờ phụng. Đến thời vua Duy Tân, con cháu và dân làng xây lại đền bằng gạch ngói, dựng bia đá khắc công lao. Từ năm 1905 đến 1915, Tri châu Phạm Quang Vinh và Bang biện Phạm Bá Ót thừa lệnh vua dựng bia ký trên đỉnh Pom Kéo, ghi chép công lao của Lò Khằm Ban. Tuy nhiên, do những biến động lịch sử, tấm bia bị “quăng quật” nhiều lần nên mòn khá nhiều. Hiện chỉ còn một mặt của bia còn những dòng khắc in mờ, một mặt đã mòn hết. Con cháu dòng họ Phạm Bá đã tìm lại tấm bia và dựng lại trên nền cũ trên đồi Pom Kéo, nơi thờ phụng Thượng tướng Thống lĩnh quân.
Đến năm Khải Định thứ 2 (1917), ông được sắc phong là bản thổ Thành hoàng phù hộ dân làng và được giao cho 6 xã thuộc tổng Phú Lệ cùng thờ phụng. Sắc phong ngày 18 tháng Ba năm Khải Định thứ hai (1917) có đoạn viết (tạm dịch): "Sắc cho các xã Phú Nghiêm, Phú Tán, Phú Lợi, Hồi Xuân, Phú Lệ, Phú Nam ở tổng Phú Lệ, các xã Cổ Nam, Cổ Động ở tổng Cổ Động châu Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa cùng phụng thờ vị tôn thần là Bản cảnh Thành hoàng là Phạm tướng công, tên tự là Sầm Ban (cách phát âm khác của Lò Khăm). Thần bảo vệ đất nước, che chở cho dân, nhiều làn tỏ rõ sự linh ứng. Đế nay, trẫm kế thừa mệnh lớn, nhớ đến công lao tốt đẹp của thần, gia phong cho là Quang ý dực bảo trung hưng Trung đẳng thần, cho phép được phụng thờ. Hi vọng thần sẽ phù trợ, bảo bọc cho dân đen của ta".

Sắc phong Lò Khằm Ban là Thành hoàng của vua Khải Đinh (1917).
Năm 2002, bia ký nơi thờ Lò Khằm Ban được công nhận di tích lịch sử – văn hóa. Năm 2016, di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Năm 2025, từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau, đền được tu bổ với nhà bia, cổng, đường lên xuống, hậu cung... thành một điểm đến tâm linh khang trang để người dân và khách thập phương đến chiêm bái.
Từ năm 2008, Lễ hội Mường Ca Da được phục dựng, tổ chức 5 năm một lần, gồm lễ rước kiệu từ chùa Ông đến đền Thượng tướng Lò Khằm Ban, cùng với lễ Xên Mường, hội diễn văn nghệ, trò chơi dân gian đậm sắc dân tộc Thái mường Ca Da. Năm 2019, Lễ hội Mường Ca Da được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Đoàn rước kiệu từ chùa Ông về đền thờ Thượng tướng Lò Khằm Ban.
Ngôi đền trên đỉnh Pom Kéo không chỉ là nơi thờ phụng một vị tướng tài ba, mà còn là biểu tượng của lòng biết ơn, là sợi dây kết nối giữa quá khứ và hiện tại. Qua hơn 600 năm, dù thời gian có trôi qua, dù lịch sử có nhiều thăng trầm, công lao của Thượng tướng Lò Khằm Ban vẫn được con cháu ghi nhớ và tôn vinh. Đó chính là giá trị văn hóa trường tồn của dân tộc, biết ơn công lao tiền nhân, giữ gìn bản sắc và truyền lại cho thế hệ mai sau.
Bá Phượng
{name} - {time}
-
2026-02-07 16:00:00Nghệ nhân Lê Thị Hương: Người “tiếp lửa” văn hóa truyền thống
-
2026-02-07 09:28:00Người nặng lòng với những “con chữ sóng đôi”
-
2026-02-06 10:34:00Đóa hoa đại ngàn ngát hương y đức và thi ca






