(vhds.baothanhhoa.vn) - Thám hoa Mai Anh Tuấn tên thật là Mai Thế Tuấn (1815-1851), nguyên quán làng Thạch Giản, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sinh tại thôn Lang Miến, phường Thịnh Hào, huyện Hoàn Long (nay thuộc khu vực Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội).

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tấm gương trung liệt

Thám hoa Mai Anh Tuấn tên thật là Mai Thế Tuấn (1815-1851), nguyên quán làng Thạch Giản, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sinh tại thôn Lang Miến, phường Thịnh Hào, huyện Hoàn Long (nay thuộc khu vực Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội).

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tấm gương trung liệt

Đền thờ Thám Hoa Mai Anh Tuấn tại xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn.

Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống hiếu học, nhiều thế hệ có công bảo vệ đất nước. Từ cụ tổ tám đời đến ông nội Mai Anh Tuấn đều làm quan và được phong tặng nhiều chức vị quan trọng. Cha ông là Mai Thế Trinh, làm tri huyện Thanh Trì. Mẹ là bà Dương Thị Lan, người làng Thịnh Hào (Đống Đa, Hà Nội). Ông tổ bốn đời của Mai Anh Tuấn là tiến sĩ Hương lĩnh hầu Mai Thế Chuẩn.

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tấm gương trung liệt

Bức Bình phong tại Đền thờ Mai Anh Tuấn.

Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Mai Thế Tuấn là người đỗ đệ nhất giáp đầu tiên của bản triều (tức triều Nguyễn)”. Theo gia phả dòng họ Mai, sau khi đỗ tú tài lần thứ nhất ở trường thi Nam Định, lần sau ông vào đăng ký dự thi Hương ở Nghệ An, bài làm xuất sắc, nên ông đỗ thủ khoa tú tài. Đến kỳ thi Hội, ông lại đỗ đầu khoa cử nhân. Năm 1843, đời hoàng đế Thiệu Trị, Mai Thế Tuấn 28 tuổi và thi đỗ đình nguyên Thám hoa. Ông được bổ làm Hàn lâm Thị độc, làm việc trong nội các triều đình.

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tấm gương trung liệt

Đôi Ghê đá ở đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn.

Dưới thời trị vì của vua Tự Đức, ông đã từng dâng sớ với lời can gián nhà vua. Lời ấy đã được sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” trân trọng ghi lại: Mai Anh Tuấn đã can vua Tự Đức ngay khi nhà vua mới lên ngôi. Đó là năm đầu tiên của đời Vua Tự Đức, tức năm Mậu Thân 1848 khi có viên quan ở Việt Đông (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) là Ngô Hội Lân, vì gặp bão mà phiêu bạt đến nước ta. Nhà vua đã sai quan quân lấy thuyền đưa về. Bộ Lễ và bộ Hộ nhân đó xin theo lệ cũ, tức là đưa theo thuyền đi hộ tống viên quan này, đồng thời chở theo thóc gạo và gỗ quý, lại còn đem theo hai chục ngàn lạng bạc để sang mua hàng hóa chở về. Mai Anh Tuấn muốn ngăn mầm xa xỉ, bèn dâng sớ nói lời rất thống thiết với nội dung đại để như sau: Việc sang mua bán ở Việt Đông đã từng có lệnh đình chỉ, trong ngoài đều rõ cả. Nay, nếu cứ thương kẻ mắc nạn, mượn tiếng hòa hiếu với lân bang để doanh thương đổi chác, thế là giả danh đưa rằng người bị nạn để chở hàng hóa về, người nước láng giềng tất sẽ tự hỏi: Thuyền ấy là thuyền gì? Vả chăng, nay ở Lạng Sơn, bọn thổ phỉ (người nhà Thanh từ Trung Quốc) tràn sang dễ đã đến mấy tuần, công văn giấy tờ hai nước qua lại bất nhất, thế thì tai họa của viên quan ở Việt Đông kia chỉ là vớ vẩn, không đáng gì với tai nạn của dân ta ở Lạng Sơn. Thiết tưởng, việc làm của bộ Hộ và bộ Lễ không phải là việc nghĩa. Xin nhà vua hãy đem những thứ hàng hóa định chở sang Việt Đông mà thưởng cho binh lính, khiến họ quét nhanh đám giặc ngoài biên cõi thì tốt hơn.

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tấm gương trung liệt

Phía trước Đền thờ Mai Anh Tuấn

Tờ sớ ấy dâng vào, Vua Tự Đức không hài lòng vì cho rằng ông phạm tội “khi quân bất kính”. Sau đó, Vua Tự Đức sai Bộ Lại bàn để trị tội, nhưng các vị đại thần đều liên tiếp dâng sớ xin tha. Nhà vua đã ra lệnh hạ chức, phái đi làm án sát tỉnh Lạng Sơn. Bấy giờ, loạn giặc đang bành trướng khắp vùng, ai cũng lấy làm nguy, nhưng riêng Mai Anh Tuấn vẫn điềm nhiên vào bái mạng để ra đi.

Đến Lạng Sơn, ông lo dẹp thổ phỉ để giữ gìn trị an. Năm 1851, quân thổ phỉ nhà Thanh tràn sang cướp phá vùng Tiên Yên rồi tiến sâu vào Lạng Sơn. Ông cùng với Chưởng vệ Nguyễn Đạc đem quân đuổi đánh, bước đầu thắng lợi, nhưng sau đó Nguyễn Đạc bị trọng thương. Mai Anh Tuấn đem quân tiếp cứu nhưng gặp địa hình hiểm trở và sau đó cả ông và Nguyễn Đạc đều bị giết.

Hay tin ông tử trận, Vua Tự Đức thương tiếc, lệnh đem thi hài ông về an táng tại Hoàng Cầu. Theo lệnh của vua, tỉnh Lạng Sơn và Thanh Hóa lập đền thờ ông. Linh vị và bát hương thờ được đặt ở đền Trung Nghĩa tại hoàng thành Huế, bên cạnh các danh thần nhà Nguyễn. Phần mộ của ông và miếu thờ tọa lạc tại thôn Hoàng Cầu (Hà Nội), được dân làng và con cháu thờ cúng. Cuộc đời cũng như sự nghiệp của ông là tấm gương sáng cho muôn đời sau noi theo.

Hiện tên Thám hoa Mai Anh Tuấn còn được khắc trên bia đặt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Thám hoa Mai Anh Tuấn, tấm gương trung liệt

Bia giới thiệu thân thế, sự nghiệp Thám Hoa Mai Anh Tuấn và dòng họ Mai trong khuôn viên Đền thờ Mai Anh Tuấn.

Đền thờ Mai Anh Tuấn ở xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ năm 1991.

Linh Hương - Đình Giang


Linh Hương - Đình Giang

 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name}- {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]