(vhds.baothanhhoa.vn) - Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một công trình vĩ đại, mà còn là biểu tượng của lòng biết ơn và kính yêu. Những ngày này, cả nước đang hướng về kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026). Chính ngày này năm xưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu mốc son chói lọi và mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc.

Những người tham gia xây dựng Lăng Bác năm xưa

Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một công trình vĩ đại, mà còn là biểu tượng của lòng biết ơn và kính yêu. Những ngày này, cả nước đang hướng về kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026). Chính ngày này năm xưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu mốc son chói lọi và mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc.

Những người tham gia xây dựng Lăng Bác năm xưa

Kỹ sư Phạm Ngọc Quang - người hướng dẫn công nhân lắp ráp các hệ thống điện, điều hòa nhiệt độ trong Lăng Bác.

Nhiệm vụ thiêng liêng

Lời Bác năm ấy còn vang vọng mãi trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, khắc sâu vào trái tim mỗi người dân đất Việt. Và tròn 24 năm sau, đúng vào ngày 2/9/1969, Bác Hồ đột ngột ra đi, để lại muôn vàn thương nhớ cho hàng triệu trái tim đồng bào cả nước. Sự ra đi của Bác khiến cả dân tộc Việt Nam quyết tâm “biến đau thương thành hành động cách mạng”, ra sức đánh Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trong khí thế sục sôi đó, ở miền Bắc, những kỹ sư người Việt Nam, kỹ sư Liên Xô cùng với hàng ngàn quân, dân được huy động để xây dựng công trình Lăng Bác Hồ.

Năm nay vừa tròn 80 tuổi, ông Phạm Ngọc Quang vẫn nhanh nhẹn, minh mẫn. Nhấp ngụm trà, ông chậm rãi kể về những năm tháng mà ông cho là một trong những dấu mốc đáng nhớ nhất cuộc đời. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Xây dựng, năm 1972, ông vào làm việc tại Sư đoàn 304. Đến năm 1973, ông chuyển về Viện Thiết kế - Bộ Quốc phòng. Đầu năm 1974, ông cùng 5 kỹ sư khác được giao nhiệm vụ hướng dẫn công nhân lắp ráp hệ thống điện, điều hòa trong Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dường như vẫn chưa hết xúc động khi nhớ lại kỷ niệm đã qua hơn nửa thế kỷ, ông Phạm Ngọc Quang bồi hồi cho biết: “Lúc ấy biết mình được giao trọng trách tham gia góp sức xây dựng công trình thiêng liêng, tôi thấy tự hào và ý thức về trách nhiệm của mình”.

Ông chính là một trong 6 kỹ sư hướng dẫn công nhân lắp ráp các hệ thống điện, điều hòa nhiệt độ trong lăng. Trong đó có ông Nguyễn Quang Tấn, người sau này gắn bó với nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1983-2007); đồng thời cũng là người đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1992-2005) và là Thiếu tướng - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1992-2003).

Nhớ lại những ngày đó, ông Phạm Ngọc Quang cho biết: Xác định Lăng Bác là công trình đặc biệt quan trọng, có một không hai và rất đỗi thiêng liêng, những người tham gia thi công đều ý thức phải hoàn thành trong thời gian nhanh nhất, nhưng đồng thời phải bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn ở mức cao nhất. Khoảng 4.000 cán bộ, công nhân, kỹ sư tham gia công trình lúc ấy đã làm việc với tinh thần khẩn trương, trách nhiệm, không quản ngày đêm. Toàn bộ công nhân làm việc 24/24 giờ, chia theo ca kíp.

Phía sau tiến độ gấp gáp ấy là một quy trình thi công và kiểm soát an ninh đặc biệt nghiêm ngặt. Ông Quang kể: “Mỗi người có một chiếc thẻ ra vào, chiếc thẻ của tôi là hạng A, cho nên có thể đi được vào các khu vực”. Mỗi lần vào lăng và xuống hầm làm việc, tất cả đều phải tuân thủ quy trình kiểm soát chặt chẽ. Công việc đòi hỏi tính kỷ luật cao, bởi ai cũng hiểu mình đang tham gia xây dựng một công trình đặc biệt.

Khi nước nhà thống nhất, Bắc - Nam sum họp với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, ngày 29/8/1975, sau 2 năm xây dựng với sự đồng tâm, đồng lòng của toàn dân tộc, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành, mở cửa đón đồng bào và bạn bè quốc tế vào viếng Bác.

Sau thời gian thi công Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Phạm Ngọc Quang tiếp tục công tác tại Viện Thiết kế. Năm 1980, ông chuyển ngành về Sở Xây dựng Thanh Hóa làm việc cho đến khi nghỉ chế độ bảo hiểm xã hội. 8 năm phục vụ trong quân đội, trong đó có 18 tháng tham gia thi công Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải quãng thời gian dài so với một đời người, nhưng với ông Quang, đó là một dấu mốc không thể nào quên. Ông luôn thấy đó là sự vinh dự lớn nhất trong đời.

Người thợ đá làng Nhồi

"Tôi là 1 trong 6 người được tuyển chọn từ làng đá núi Nhồi tham gia xây Lăng Bác Hồ. Đó là khoảng giữa năm 1973, chúng tôi được “nhận nhiệm vụ đặc biệt” và chỉ khi đến công trường mới biết chính thức việc của mình”, ông Lê Thiều Hoa, tổ dân phố Nhồi, phường Đông Quang chia sẻ.

Nhiệm vụ của tổ thợ đá làng Nhồi lúc bấy giờ là mài đá, chỉnh sửa đá và ghép đá trong Lăng Bác. Trong số 6 người thì ông Lê Thiều Hoa trẻ nhất, khi ấy mới tròn 14 tuổi. “Lúc đó, từ hình vẽ đã được thiết kế, chúng tôi “ke” sang đá và đục đẽo. Tất cả các công đoạn đều làm thủ công nên khá vất vả. Khi biết được đây là công trường xây dựng Lăng Bác, tôi được các anh, các chú động viên, giúp đỡ vượt qua những khó khăn để hoàn thành công việc được giao”, ông Hoa kể lại.

Những người tham gia xây dựng Lăng Bác năm xưa

Ông Lê Thiều Hoa được tuyển chọn tham gia mài đá, chỉnh sửa đá và ghép đá trong Lăng Bác từ khi 14 tuổi.

Điều ông nhớ nhất là an ninh ra vào công trường rất ngặt nghèo. Tổ thợ 6 người của làng đá Nhồi được bố trí ăn ở khu vực sau lăng. “Trước khi vào làm việc, chúng tôi đều phải qua phòng thay đồ để mặc quần áo bảo hộ. Công việc của ai người ấy làm, rất miệt mài và hăng hái”.

Cuối năm 1973, sau 5 tháng tham gia xây dựng Lăng Bác, tất cả tổ thợ đá làng Nhồi lại trở về công việc thường ngày là chế tác đá.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tham gia xây Lăng Bác Hồ, ông Hoa được tạo điều kiện đi học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trung ương, rồi về địa phương tiếp tục gắn bó với nghề đá. Đến đầu năm 1990, ông lại cùng thợ đá làng Nhồi thực hiện việc lắp ghép, chạm trổ 5 bộ Tùng - Cúc - Trúc - Mai - một trong những hạng mục cuối cùng trước khi khánh thành Bảo tàng Hồ Chí Minh nhân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự thăng trầm của nghề làm đá làng Nhồi khiến nhiều người phải chuyển nghề, kiếm kế sinh nhai, song với quan điểm, nghề là phải gắn bó, vì thế mà dù làm bất cứ việc gì, hằng ngày ông Lê Thiều Hoa vẫn cầm choòng, cầm giũa... đục đẽo đá với một niềm say mê.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những người từng tham gia xây dựng Lăng Bác năm xưa nay người còn, người mất, mỗi người một cuộc đời, một số phận. Với ông Hoa, ký ức về những ngày ở công trường đặc biệt ấy vẫn nguyên vẹn. Cả một đời gắn bó với nghề đục đẽo, chế tác đá, có khó nhọc, có niềm vui, nhưng được tuyển chọn tham gia xây Lăng Bác Hồ vẫn là nhiệm vụ thiêng liêng, là niềm vinh dự và tự hào mà ông luôn mang theo trong suốt cuộc đời.

51 năm sau ngày Lăng Bác hoàn thành, trong số 6 người thợ đá của làng Nhồi đi thủ đô năm xưa, nay chỉ còn lại ông Lê Thiều Hoa. Những người từng góp sức cho công trình năm ấy, dù ở vị trí nào, đều có chung một ký ức đặc biệt: đã từng được góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào nơi mà hàng triệu người dân Việt Nam tìm về với lòng thành kính.

Với họ, đó không chỉ là một nhiệm vụ đã hoàn thành từ 51 năm trước, mà còn là một phần ký ức đẹp của cuộc đời - ký ức về những ngày tháng được làm việc cho một công trình thiêng liêng, nơi mỗi viên đá, mỗi đường ống, mỗi mối ghép đều mang theo tình cảm và lòng kính yêu đối với Bác Hồ.

Bài và ảnh: Kiều Huyền



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]