Thầy tôi “Thủ thỉ cùng con”
Thủ thỉ cùng con là tiêu đề cuốn hồi ký của thầy tôi - Bùi Văn Minh và vợ là Nguyễn Thị Mùi - một cuốn sách được “ghi chép lại để các con biết được bố mẹ đã sống như thế nào... Đây là những chuyện có thật 100%, không màu mè, tô vẽ; không chút bịa đặt, nói sai. “Có thể là sai về văn phạm, ngữ pháp, hoặc có chỗ các con khó hình dung nhưng không sao, có gì không rõ, cứ hỏi lại bố nhé”.

1. Thầy tôi - nguyên là giáo viên Toán. Trong ký ức của tôi, thầy là người vô cùng hiền, nụ cười tươi, hồn hậu. Thầy kể về cuộc đời mình theo thứ tự thời gian. Vì mục đích kể cho các con nghe, nên thay vì xưng tôi như bình thường, thầy xưng “bố” với các con. Bắt đầu từ phần Thời thơ ấu. “Tuổi thơ của bố gắn bó và quanh quẩn với quê hương Ngư Lộc. Trong một gia đình đông con, làm để có cái ăn đã là cuộc vật lộn mưu sinh trường kỳ của tất cả các thành viên, của thời ấy...”.
Thầy sinh ra ở miền biển, gọi là làng chài Diêm Phố, trong giai đoạn cải cách ruộng đất, đời sống cơ cực khó khăn cả về vật chất và tinh thần. Khi còn nhỏ thì khiêng nước gạo cho bố chăn nuôi lợn; lớn hơn chút thì chắp quại, dệt chiếu, xe đay, xe cói, kiếm củi, ra biển thì bắt dắt, bắt don, nhặt sò, “hôi rùng”. Lớn lên lại gặp đúng thời kỳ Mỹ thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đặc biệt năm 1966, giặc ném bom, bắn phá các thuyền đang neo đậu ven bờ biển xã Ngư Lộc. Những dòng viết: “Lần đầu tiên, bố nhìn thấy máy bay phản lực bổ nhào cắt bom rất gần. Tiếng gầm rú kinh hoàng của chiếc máy bay thật ghê rợn. Chúng từ trên trời cao sà xuống khá thấp rồi cắt bom. Những quả bom hơi tròn lao từ trời cao xuống đất, dưới ánh mặt trời chúng loang loáng rơi, ngay trên đỉnh đầu”.
Tuổi thơ của thầy tôi gắn liền với việc vừa đi học, vừa gác phòng không, vừa đan lưới, chắp quại. Trong trang hồi ký, thầy kể chuyện bạn bè rất sống động. Đó là bác Hùng thường động viên thầy tôi đọc sách; là tình cảm với cô Thanh, “tuy chưa đến mức say nắng nhưng xa nhau mấy ngày cũng... nhơ nhớ”... “Tình bạn chính là động lực to lớn để mỗi người rèn luyện sống tốt hơn trong mắt của bạn mình”.
Mỗi trang viết như một thước phim chầm chậm quay. 14 tuổi, thầy tôi “thoát ly” gia đình để đi học lớp Toán đặc biệt thuộc khoa Toán, Trường Đại học Sư phạm Vinh. Rồi sau này thầy cũng chính là sinh viên của khoa Toán. Nhưng sống trong giai đoạn tất cả sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, vừa học xong năm thứ nhất, thầy tôi đã nhập ngũ (25/8/1971). Chàng sinh viên gầy nhỏ chừng hơn 40kg bước vào đời quân ngũ với biết bao lạ lẫm. Chuyện về lần đầu tiên tập bắn súng, hay những ngày đi gánh cỏ tranh về lợp lán trại, rồi vì đói quá mà phải đi đào trộm khoai của nhà dân... được thầy kể rất sinh động.
Sau những ngày huấn luyện, thầy Nam tiến, vào chiến trường Trị Thiên khói lửa, đi qua những chốt cao điểm 37B, 34, 224, 223... những địa danh ám ảnh trong từng chuyện kể. Đó là chuyện người lính trẻ khi được phát thuốc lá Tam Đảo đã xin thêm hai bao nhưng không hút ngay, mà đợi: “Em đợi khi Hiệp định Paris có hiệu lực, em mang ra để chúng em ngồi trên nóc hầm hút cho khoái”. Có ai ngờ đâu, hai bao thuốc vẫn còn, nhưng người chiến sĩ ấy đã hy sinh. Hay chuyện ở đồi Bông (kề ngay cao điểm 224) quân số bổ sung liên tục, chỉ huy chưa kịp biết tên, biết mặt đã phải cử người đi làm công tác tử sĩ. Đầu tuần lúc lên chốt có 82 người, cuối tuần chỉ còn 15 tay súng. Rồi câu chuyện về liệt sĩ Lê Viết Hùng, quê ở Đông Khê, tỉnh Thanh Hóa - người nhiều lần trăn trở muốn viết thư về bảo vợ đi lấy chồng, “chiến tranh thế này biết đâu mà chờ” - như một điềm báo, chỉ gần một tháng sau người chiến sĩ ấy đã hy sinh.
Chiến tranh nghiệt ngã là vậy. Tôi nhớ mãi những trang viết về trận đánh cuối cùng trong đời lính của thầy. Khi ấy mục tiêu của tiểu đoàn là đánh các cao điểm phía trước cao điểm 223 (có tên gọi là La Sơn, Động Giếng) yêu cầu đi trong đêm và bí mật tuyệt đối, phải chờ khi nào có pháo lệnh thì tất cả mới được nổ súng. Để đảm bảo không có một chút tiếng động nào, người lính phải dùng da thịt ngón tay làm lớp lót để kim khí khi chạm vào không phát ra âm thanh. “Có lẽ khi diễn tập không thể nào làm được như thế, nhưng đứng giữa cái sống và cái chết, con người ta lại làm được”.
Chiến tranh là khói, là thuốc, là những hy sinh và mất mát. Thầy tôi tự nhận mình “không ít lần may mắn”, “chắc phải sống đến thượng thọ”. Lần đầu bị thương, đạn AR15 bắn xuyên lưng, cách cột sống khoảng 8mm nhưng không gãy xương sườn, không rách màng trong, chỉ xuyên qua cơ lưng giữa hai cái xương sườn. Rồi khi ở cao điểm 224, pháo địch thả ngay nóc hầm, “thấy máu đầy trên mặt, lật mũ ra mới biết mũ bị xé rách từ chóp đến vành”, dưới chân là một mảnh đạn nóng ran, óng ánh to bằng đốt ngón tay, sắc cạnh. Nhắc lại chuyện sống - chết mà giọng thầy vẫn tếu táo “Nếu không có chiếc mũ cối đỡ đòn mà là chiếc mũ tai bèo chắc bố đã toi ngay tại chỗ”.
Sau Hiệp định Paris, đơn vị của thầy nhận lệnh chuyển quân về phía Tây Quảng Trị - Thừa Thiên, chốt giữ ở tuyến giáp ranh. Đó là những ngày ở sông Ba Lòng, động Ông Do rồi qua sông Nhùng, Rào Trăng, chuyển vào sông Bồ “bên này là ta, bên kia là địch”, bom đạn vẫn còn. Và ngày 27/12/1973, khi vừa qua tuổi 20 thầy tôi được kết nạp vào Đảng ngay tại chiến trường. Thầy cũng là người đầu tiên trong đại gia đình mình được kết nạp vào Đảng.
2. Chuyện đời lính gay cấn bao nhiêu thì chuyện lấy vợ lại giản đơn bấy nhiêu. Lính chiến trường cưới vợ trong một lần về phép. Được nghỉ phép một tháng, ông bà và người thân trong gia đình ai cũng khuyên cưới vợ dịp này, bởi bộ đội thời đó có một tháng phép là hiếm lắm, nhiều anh lính chỉ nghỉ phép bảy ngày thôi là đủ kịp cưới vợ rồi. “Con chỉ có một người bạn gái thân duy nhất, học với nhau cùng lớp ở trường đại học. Cô ấy quê ở Yên Thành, Nghệ An. Chúng con đã thương và quý nhau từ rất lâu rồi. Con tin rằng nếu đặt vấn đề thì có thể được, nếu không chẳng có đám nào khác”. Và thế là gia đình lên đường đi hỏi vợ. Đường sá xa xôi, hai gia đình thống nhất đơn giản các thủ tục coi như bây giờ đã dạm ngõ, ăn hỏi. Hôm sau là vào nạp tài, xin dâu, đưa dâu về và tổ chức cưới... Trong đám cưới, chú rể mặc bộ quân phục cũ từ chiến trường, cô dâu mặc quần phíp, áo nền trắng kẻ ca rô - bộ áo mới nhất mà cũng là đẹp nhất. Đúng là “ngày hợp hôn nàng không tiền may áo mới, tôi mặc đồ quân nhân”.
Một chuyện tình đơn giản của người lính trận và cô giáo trẻ mới ra trường hấp dẫn người đọc từng câu, từng dòng bởi sự dung dị và chân thật; bởi nói lên được nỗi khát khao của những người lính ở chiến trường. Sau 9 ngày họ cưới nhau, chàng trai vào lại chiến trường Trị Thiên khói lửa.
3. Cuối tháng 7/1975, theo chủ trương của Bộ Quốc phòng về việc trả lính sinh viên về lại các trường đại học; sau đó 2 tháng thầy tôi nhập học trở lại. Cuộc sống sinh viên sau chiến tranh là những ngày “đói dài”, những đêm “tham gia chọc trộm lò than của nhà bếp để lấy lửa cùng bạn bè nấu ăn, kiếm cái ăn thêm cho đỡ đói”... Sau 4 năm đại học, vừa lo học, vừa lo thu xếp việc gia đình, “vợ trẻ, con thơ, xa quê, kinh tế thì gần như là hai bàn tay trắng”, thầy tôi về nhận công tác tại trường cấp ba Hậu Lộc (nay là Trường THPT Hậu Lộc 1). Từ năm 1987 đến 1992, thầy giữ chức phó hiệu trưởng nhà trường. Đến tháng 9/1992, thầy chuyển lên dạy ở Trường THPT Chuyên Lam Sơn. Đến năm 2000, nhận quyết định làm việc ở Sở Giáo dục tỉnh cho đến khi về hưu. Cuộc đời dẫu chẳng phải lúc nào cũng bằng phẳng, nhưng thầy luôn nhìn bằng sự sẻ chia, thông cảm. Chính vì thế, Thủ thỉ cùng con được viết bằng giọng lạc quan, tươi vui.
Ngoài phần 1 là “Chuyện của bố” thì phần 2 “Chuyện của mẹ” - do cô Nguyễn Thị Mùi viết, ghi lại một số sự kiện liên quan đến đại gia đình, những câu chuyện rất phụ nữ, rất gần gũi và đời thường.
Từ một người bạn, nhưng vì chiến tranh, vì khoảng thời gian xa cách mà tình cảm của cô Mùi và thầy Minh đã phát triển, ban đầu chỉ là sự cảm thông, thương mến anh bộ đội Cụ Hồ để rồi có mong muốn gắn kết và sống trọn đời bên nhau. Có lẽ cùng vì chiến tranh, mà ai cũng nghĩ giản đơn, trong đó có cô Nguyễn Thị Mùi khi trả lời gia đình về người bạn trai: “Con thương anh ấy. Gia đình và anh ấy muốn cưới, con đồng ý. Con hiểu thế nào là chiến tranh. Con chấp nhận tất cả những gì xảy ra. Âu cùng là số phận. Từ chối anh ấy lúc này con không nỡ...”. Và cũng chính vì đi qua những ám ảnh từ chiến tranh, những khốn khó về vật chất, những ranh giới giữa sống - chết, chờ đợi - hy vọng mà họ luôn trân quý những phút giây dành cho nhau. Như cách cô viết về niềm vui khi chồng mình - bố của những đứa con trở về: “bố mang về cho mẹ một mảnh vải màu tím Huế, một chiếc khăn voan mỏng tang, một bình nhựa màu đen (dụng cụ đựng dầu lau súng của Mỹ)... Thật ra chỉ cần bố trở về lành lặn là mẹ đã quá hạnh phúc rồi, không mong muốn gì hơn nữa”.
Cuộc đời người phụ nữ quan trọng nhất là một gia đình hạnh phúc. Cô Nguyễn Thị Mùi đã “may mắn” có được điều đó. Cả ba người con của cô thầy đều đã từng giành giải nhất cấp quốc gia, trong đó con cả Bùi Anh Văn đã đạt giải nhì trong kỳ thi Olympic toán quốc tế năm 1994.
Mỗi người, mỗi gia đình đều có những ký ức riêng nhưng không phải ai cũng có điều kiện để ghi lại. Tôi thích sự chân thành đến giản đơn, sự nhẹ nhàng mà sâu sắc của Thủ thỉ cùng con. Dù mục đích ban đầu là viết cho con, cho cháu nhưng khi một người học trò như tôi đọc từng trang sách, dòng thời gian quay ngược, tôi tìm thấy một phần câu chuyện của gia đình mình, tìm thấy “chuyện tình thời chiến” giản dị mà phi thường, và hơn hết là nhìn thấy sự vươn lên mạnh mẽ của từng cá nhân trong lịch sử dân tộc.
Bài và ảnh: Phương Linh
{name} - {time}
-
2026-05-30 19:00:00[Podcast] Truyện ngắn: Mối hàn của thời gian
-
2026-05-30 15:50:00Những “chỉ dấu” gợi nhớ mùa hoa học trò (Bài 3): Món quà mùa hạ
-
2026-05-30 10:56:00Những “chỉ dấu” gợi nhớ mùa hoa học trò (Bài cuối): Bay cao ước mơ
Những “chỉ dấu” gợi nhớ mùa hoa học trò (Bài 2): Phượng hồng, bằng lăng tím và những trang lưu bút
Những “chỉ dấu” gợi nhớ mùa hoa học trò (Bài 1): Cây bàng – “Lính gác” của tuổi thơ
Bà nội siêu đỉnh của tôi (Chapter cuối): Những người muôn năm cũ
[Podcast Tản văn]: Dưới tán phượng già là lời hẹn thanh xuân
![[Podcast] Truyện ngắn: Mối hàn của thời gian](http://c.dhcn.vn/media/img/256/news/2621/146d6084809t09301l1-download2.webp)





