Cha con dũng tướng Lý Triện - Lý Lăng
Nếu người cha là Lý Triện theo nghĩa quân Lam Sơn từ những ngày đầu tiên song chưa kịp hưởng niềm vui chiến thắng đã tử trận thì người con là Lý Lăng lại mang trong mình oan khiên đến nỗi phải dẫn đến cái chết. Số phận khác nhau song hậu thế vẫn luôn coi họ là những tấm gương chính trực, dũng cảm.

Chùa Linh Cảnh nằm trên vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của vương triều Hậu Lê. Sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã từng về nơi đây và viếng chùa lễ Phật.
Dũng tướng Lý Triện
Vốn quê ở trang Bái Đô, huyện Lôi Dương (nay là xã Lam Sơn), Lý Triện tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ năm 1418, trong đội quân thiết đột (xung trận) dũng cảm, mưu trí, mọi hiểm nguy đều vượt qua. Ông được Lê Lợi hết lòng yêu quý và tin cậy giao trách nhiệm chỉ huy một đơn vị nghĩa binh.
Mùa đông năm 1420, khi Bình Định vương đóng quân ở Mường Thôi (thuộc huyện Quan Hóa trước đây), bị tên tri châu Quỳ Châu là Cầm Lạn dẫn đường đưa các tướng Minh là Lý Bân, Phương Chính dẫn hơn 10 vạn quân từ Nghệ An đến đánh. Lý Triện đã cùng Trần Lý, Phạm Vấn đem mấy nghìn khinh binh đi chặn giặc và khiêu chiến, để đại binh do Lê Lợi chỉ huy mai phục ở Bồ Mộng (xã Pù Nhi). Quân giặc đã bị thua to còn bị quân Lam Sơn đuổi chạy dài đến tận đồn Nga Lạc, khoảng Phố Cống, xã Ngọc Lặc ngày nay.
Càng về sau, tài năng quân sự của Lý Triện càng bộc lộ rõ nét hơn. Ông được đánh giá cao trong trận chiến ở Khôi Huyện. Lý Triện chém chết tướng Phùng Quý và hơn 1.000 người, bắt hơn 100 ngựa... quân tướng còn lại, tháo chạy theo đường Nho Quan về Đông Quan (Hà Nội ngày nay). Sách “Đại Việt thông sử” chép: "Lý Triện chém đầu Phùng Quý rồi cắm vào cây giáo dài giơ lên cao khiến cho quân giặc trông thấy mà hoảng sợ, chạy tán loạn. Tướng chỉ huy quân Minh bỏ chạy về thành Đông Quan”.
Sang năm 1425, khi ấy Đinh Lễ được lệnh ra đánh Diễn Châu. Ngay sau khi Đinh Lễ xuất quân, Lê Lợi lại sai Lý Triện cấp tốc lên đường đi tiếp ứng. Lý Triện đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, hơn thế nữa, ông còn chủ động đem quân ra vây hãm thành Tây Đô. Nhờ công lao này, Lý Triện được Lê Lợi phong tới hàm Thiếu úy. Với chiến tích ở trận Tốt Động, Chúc Động, sử gia Ngô Sỹ Liên cho rằng Lý Triện cùng Đinh Lễ đứng đầu trong các tướng giỏi của nghĩa quân Lam Sơn.
Đến năm 1426, Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn sai Lý Triện cùng một số tướng tài đem một vạn quân, chia làm ba đạo cùng luồn sâu vào khu vực còn tạm bị quân Minh chiếm đóng để hoạt động và dọn đường cho cuộc tấn công của Lam Sơn sau này.
Sang mùa xuân năm 1427, Lý Triện được Bình Định vương Lê Lợi tin tưởng sai đem quân đóng ở cửa Bắc thành Đông Đô (Đông Quan) - một cửa ngõ quan trọng bậc nhất. Và trong một trận chiến bị giặc bất ngờ đánh úp, vì tương quan lực lượng quá lớn, dũng tướng Lý Triện đã dốc sức chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Ông đã tử trận trong tay Phương Chính, kẻ từng nhiều lần là bại tướng trong tay ông. Trong “Mười năm Lam Sơn phò Thái Tổ” thì có đến 9 năm Lý Triện đánh đông dẹp bắc, chỉ dừng lại khi chỉ còn cách chiến thắng cuối cùng trong gang tấc (Việt sử kiêu hùng, quyển 3). Điều này cũng được các sử gia đời sau đánh giá, ông “dũng lược hơn người và là một trung thần hiếm có”. Chỉ tiếc rằng, ông đã ngã xuống khi cuộc chiến sắp đến ngày toàn thắng.
Thương tiếc Lý Triện, Lê Lợi đã ban cho ông quốc tính (họ vua), truy phong Nhập nội Tư Mã, đồng thời cho cha ông là Lý Ba Lao làm chức sát sứ, cấp 400 mẫu ruộng, phong con ông là Lý Lăng làm Phòng ngự sứ, tước Phục hầu.
Trải qua biến thiên thời gian và lịch sử, đền thờ Lý Triện ngày nay không còn. Ông Trịnh Việt Trung, Phó trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội UBND xã Lam Sơn, cho biết: “Hiện nay, danh tướng Lý Triện được người dân thờ trong Khu di tích lịch sử văn hóa chùa Linh Cảnh. Hằng năm, vào ngày 9 tháng 2 (âm lịch) tại di tích diễn ra Lễ hội Kỳ Phúc Thành hoàng làng Bái Thượng - Bái Đô nhằm tôn vinh, tri ân công đức của các anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng có công lập làng, xây dựng và bảo vệ đất nước được thờ phụng trong chùa".
Và cái chết oan ức của Lý Lăng
Tiếp nối tinh thần của cha mình, Lý Lăng theo Lê Lợi ngay từ khi mới lớn. Sự nghiệp của ông được sử sách ghi lại bắt đầu từ năm 1427. Sách “Đại Việt thông sử” (mục Chư thần truyện), Bảng nhãn Lê Quý Đôn đã có một đoạn viết về Lý Lăng như sau: “Khởi đầu, vì Lê Lăng là con của tướng có nhiều công lao là Lê Triện nên mới được vua dùng. Ông ra vào trận mạc, cũng lập được chiến công”.

Lễ hội Kỳ Phúc làng Bái Thượng - Bái Đô diễn ra vào ngày 9/2 hằng năm được bà con Nhân dân địa phương, du khách tới dâng hương và chiêm bái.
Khoảng năm Thái Hòa (từ năm 1443-1453), đời vua Lê Nhân Tông, ông được phong làm Nhập nội Thiếu úy và được tham dự triều chính. Khi Lê Nghi Dân giết vua và cướp ngôi, Lý Lăng làm Nhập nội Thiếu úy, Bình Chương Quân quốc Trọng sự, tước Á Thượng hầu. Ông cùng quan Thái phó Đinh Liệt và Nguyễn Xí, quan Xa Kỵ Tổng tri Lê Niệm mưu việc nghĩa, giết bọn Phạm Đồn và Phan Ban rồi truất phế Lê Nghi Dân và rước Lê Tư Thành lên ngôi.
Năm Quang Thuận thứ nhất (năm 1460), do có công tôn lập, ông được vua Lê Thánh Tông gia hàm Thái bảo, lại còn ban cho 300 mẫu ruộng thế nghiệp. Về sau, vua sai ông cùng Đinh Liệt đi đánh Man Cầm. Nhờ công này, đầu năm 1461, vua Lê Thánh Tông sai quan Chánh chưởng Nguyễn Lỗi đem đến ban cho ông bạc lạng và một tờ sắc dụ.
Dù đã có thời điểm ông được vua Lê Thánh Tông tin tưởng, phong tới hàm Thái úy, song đến tháng 8/1462, có người tố cáo rằng, Lý Lăng đã từng có ý định đưa Lê Khắc Xương (người anh trai của Lê Tư Thành) lên làm vua. Điều này đã làm vị vua trẻ Lê Thánh Tông tức giận, ngoài ra Lý Lăng còn là người tính tình cứng rắn, cương trực nên Lê Thánh Tông vẫn thường nói rằng: Ta thường thấy không được an lòng.
Không hóa giải được những nghi kỵ trong lòng vua, mùa thu năm1462, Lý Lăng bị xử tội chết, gia sản bị tịch thu. Cái chết oan của ông, dù hàng trăm năm đã trôi qua, song việc hậu thế tôn ông là một danh tướng, là bậc khai quốc công thần của triều Lê sơ là cách trả lại những gì vốn thuộc về ông.
Lịch sử trải qua nhiều biến thiên, và cuộc đời cha con Lý Triện - Lý Lăng dẫu kết cục mỗi người mỗi khác nhưng tựu chung lại họ đã sống, chiến đấu vì giang sơn xã tắc, giữ lòng trung quân.
* Bài viết tham khảo, sử dụng nội dung trong các sách Địa chí huyện Thọ Xuân; Văn tài võ lược xứ Thanh (Trịnh Hoành, NXB Thanh Hóa, 2017).
Bài và ảnh: Kiều Huyền
{name} - {time}
-
2026-03-27 08:35:00Khát vọng thanh xuân (Bài 6): Đánh thức đá xám, thắp sáng giảng đường
-
2026-03-26 08:34:00Khát vọng thanh xuân (Bài 5): Tuổi trẻ ở “tọa độ” ma túy
-
2026-03-25 16:52:00Khát vọng thanh xuân (Bài 4): Khi tri thức là bệ phóng, khát vọng cống hiến






