Một người lính viết văn
Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh nhắc đi nhắc lại nhiều lần với tôi về cụm từ người lính viết văn. Cũng phải thôi, 10 năm là lính chiến ở Hàm Rồng, vì thế mà trong nỗi nhớ có nỗi ám ảnh, trong ám ảnh lại chồi lên những thổn thức, để ông cầm bút, để viết, để giãi bày...

Ảnh: Bảo Anh
Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh sinh năm 1947, ông thuộc thế hệ nhà văn mặc áo lính của xứ Thanh. Những trải nghiệm từ hiện thực đời sống vào trang viết thôi thúc ông dự phần vào thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Đối với ông “Đến với văn chương có nhiều con đường khác nhau, văn chương cũng khác nhau như mỗi cuộc đời. Cái Tình và cái Nết làm nên giọng nói, học hành và cảnh ngộ làm nên nông, sâu làm người đọc nhận ra giọng điệu - cá tính nhà văn... Nhà văn được cuộc đời rủ rê, xô đẩy và mê hoặc để cầm bút. Cầm bút rồi lại muốn đời mê ly bởi văn mình. Mới biết văn chương cám dỗ như là định mệnh”.
Bởi thế, hơn 60 năm trước, từ năm 1965, ông đã bén duyên với thơ ca. “Lúc bấy giờ, chúng tôi làm thơ với tinh thần như “tiếng hát át tiếng bom”, làm để lấy tinh thần chiến đấu. Lúc đấy, tôi viết về đời lính với những ý thơ rất bình dị, vì nghĩ, thơ chiến tranh không cần hô hào, cổ vũ, không cần sự gai góc. Bởi bản chất chiến tranh đã quá khốc liệt, khi mình viết bằng cảm xúc của người trong cuộc, bình dị thôi, dễ đi vào lòng người”, nhà văn Từ Nguyên Tĩnh kể lại. Những câu thơ “... Sau trận bom không gian yên tĩnh quá/ Hố bom trơ nhìn như trăm ngàn con mắt mở” (Trên bãi bom B52); “Kìa đôi Mắt Rồng vẫn mở trơ trơ/ Mở mắt/ Như chưa bao giờ biết ngủ/ Và Hòn Ngọc sáng bừng bên kia sông/ Chứa chất ngọc vào trong tim tôi” (Trái tim nhịp cầu)... thật cảm xúc và nhiều dư âm.
Rồi ông nhớ lại bài báo đầu tiên viết về Đinh Ích Nhượng, Khẩu đội 8, Đại đội 1 pháo 57 li, bảo vệ đập Bái Thượng. Bài viết được in ở báo Phòng không Không quân và ngay sau đó ông được mời đi họp cộng tác viên ở Hà Nội. “Năm 1965 mà được ra Hà Nội là sướng lắm và thiêng liêng lắm”. Trận địa Hàm Rồng và những bờ công sự, vừa kích thích những chàng pháo thủ trẻ tuổi vừa là động lực để họ thêm dũng cảm chiến đấu chống kẻ thù. Câu khẩu hiệu “Thà gục trên mâm pháo, quyết không để cầu gục” ở Hàm Rồng mà hôm nay chúng ta vẫn nhìn thấy, mang “thương hiệu” Từ Nguyên Tĩnh.
Trong 10 năm ở Hàm Rồng, có giai đoạn 1967-1968 do ném bom hạn chế, ông được đưa ra làm phóng viên báo Quân khu 3 chừng 6 đến 8 tháng. Con đường văn chương ngấm vào ông để sau này khi xuất ngũ, đã có vợ và 2 con, ông quyết định đi học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Chọn con đường học vấn, ông từng có suy nghĩ gác lại văn chương, học một cái nghề để phát triển, phục vụ cuộc sống, coi như bỏ hết vốn liếng thơ ca đã có. Ông từng nghiên cứu về kịch bản văn học, nhưng tự nhận thấy mình không có vốn liếng về hội họa, âm nhạc để có thể xây vững cái nền để biên kịch giỏi, nên sớm ngừng lại. Nói theo ngôn ngữ hiện nay là “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”, cuối cùng thì văn chương vẫn là bến đỗ của ông, hay ông chẳng còn con đường nào khác là theo văn chương. Tôi nhớ đến truyện ngắn “Một... Hai... Ba... Bốn” của ông viết về những người lính cao xạ, 10 năm sống mái bảo vệ nhịp cầu. Đó là Dân, 10 năm trên trận địa đầu cầu sắt không một hòn đá nào rơi vào người, máy bay đánh vào trận địa mà không bị thương. “Khám thương tật, bác sĩ lắc đầu. Lành lặn. Nhưng chấn thương trong lòng thì máy móc đành chịu”. Là Hưng “bàn chân thương hiệu của pháo thủ số 1"...
Là Dân, hay là Hưng thì tôi cũng thấy bóng dáng của anh chiến sĩ cao xạ Lê Văn Tĩnh, sau này là nhà văn Từ Nguyên Tĩnh. Với ông, nỗi ám ảnh lớn nhất của chiến tranh là không nhìn thấy khuôn mặt của kẻ thù. Bom đạn có thể rơi vào người bất cứ lúc nào, đặc biệt là với lính cao xạ. “Trong những năm tháng ấy, mỗi lần về quê, tôi ngủ ngon lành dù vẫn có tiếng máy bay xoẹt qua nhà. Còn ở trận địa, như một thứ bản năng có điều kiện, ngủ mà hai tai còn mở to để nghe, âm thanh tiếng máy bay địch từ xa là đã vùng dậy. Chẳng ai thích chiến tranh nhưng chiến tranh tạo cho chúng ta bản năng thích nghi để được sống”.

Chân dung nhà văn Từ Nguyên Tĩnh (họa sĩ Lê Đình Quỳ vẽ năm 2015).
10 năm ở trận địa Đại đội 4, từ một chàng trai trẻ, đi ra khỏi làng Thạch Bàn là làm pháo thủ, rồi lại mơ mộng viết văn, viết báo... “Chính cái mơ hồ đó lại hun đúc tôi mang tinh thần tráng sĩ, chính những người đồng đội đã cho tôi hiểu thế nào là lý tưởng sống”. Đó cũng là lý do mà ngoài đề tài nông thôn, nhà văn Từ Nguyên Tĩnh dành cả đời để viết về người lính. Tính sơ sơ ông có chừng 40 - 50 truyện ngắn viết về chiến tranh nói chung, Hàm Rồng nói riêng. Những cuốn tiểu thuyết như: Mảnh vụn chiến tranh (1994), Sống được là may (2014), Cõi người (2004)... cũng có phần viết về Hàm Rồng. Ông chính là nhà văn viết nhiều nhất về Hàm Rồng. Nhưng ông cũng tự nhận: Viết về người lính cao xạ khó lắm.
Càng khó càng thôi thúc ông viết. Viết là sự dấn thân để trả nợ cho cái mình đã chọn. Thơ là sự lựa chọn đầu tiên của ông, nhưng văn xuôi mới neo đậu, bén rễ và làm nên tên tuổi nhà văn Từ Nguyên Tĩnh. Một tác phẩm văn xuôi tạo dấu ấn có thể giúp tác giả trải hết lòng mình, có thể khiến nhiều độc giả xao xuyến. Chính văn xuôi đã giúp ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1994, và sau này được vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Ông đã chọn đời lính, và những trang văn của ông cũng để tri ân người lính. Bởi thế mà sau tất cả những nỗi ám ảnh, nỗi đau, với nhà văn Từ Nguyên Tĩnh khi nhìn lại về 10 năm làm lính chiến bảo vệ cầu Hàm Rồng vẫn là những dư vị ngọt ngào. Cầu được bảo vệ, nhiều đồng đội được trở về với gia đình... “Gia tài đó tôi mang bên mình để hàng đêm tôi được tâm sự với chính trái tim mình". Và văn chương chính là con đường mà ông thể hiện cảm xúc một cách phong phú nhất.
Có thể khẳng định, đến với văn chương, nhiều người trắng tay, nhiều người hòa vào trong dàn đồng ca đám đông nhạt nhòa... song với nhà văn Từ Nguyên Tĩnh, ông đã tạo ra một chất giọng riêng, có thô, có mộc, và có cả cái bỡn cợt, bông đùa mà vẫn thẳng thắn, bộc trực, mạnh mẽ... đầy chất lính. Chữ “bầu” nên nhà văn là vì thế.
CHI ANH
{name} - {time}
-
2026-04-05 22:11:00Bà Triệu và huyền thoại trên núi Tùng
-
2026-04-03 14:12:00Thầy Túc
-
2026-04-03 13:44:00Hành trình phủ xanh cây mắc ca trên đất Thanh Phong



![[Thanh Hóa xưa và nay] Thanh Hóa xưa qua ghi chép của người Pháp](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2613/205d1091559t08411l1-download7.webp)
![[Thanh Hóa xưa và nay] Nhà hát Lam Sơn – Biểu tượng nghệ thuật của xứ Thanh](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2613/291d4093349t1720l1-485151790-629065.webp)

![[Thanh Hóa xưa và nay] Cầu Hàm Rồng - biểu tượng nối liền ký ức và hiện tại](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2613/290d2190854t11017l1-cau-ham-rong5.webp)