Nghĩa đen của thành ngữ “Nghe hơi nồi chõ” (bài 1)
Người Việt hầu hết đều hiểu đúng, dùng đúng thành ngữ “Nghe hơi nồi chõ”. Tuy nhiên, nghĩa đen của nó là gì lại khiến nhiều người lúng túng.

Các sách như Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - Vietlex), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Vũ Dung - Vũ Thúy Anh - Vũ Quang Hào), chỉ giải thích nghĩa bóng, không giải thích nghĩa đen.
Một số sách khác giải thích cả nghĩa bóng và nghĩa đen:
- Đại từ điển tiếng Việt (Như Ý chủ biên) giảng: “nghe hơi nồi chõ • Chỉ nghe đồn đại, nghe qua người khác, không có gì là chắc chắn cả, ví như nghe hơi nước trong chõ đồ xôi, do phải nghe qua thành nồi bịt kín thì khó mà đoán định đúng độ sôi của nước ở bên trong”.
Cách giải thích nghĩa đen của từ điển Nguyễn Như Ý, theo chúng tôi không ổn. Bởi vì khi nước đã bắt đầu sôi và hơi bốc lên thì việc “đoán độ sôi” hầu như không còn ý nghĩa. Hơn nữa, nếu cần “đoán định” thì người ta sẽ đoán xem nồi đáy còn nhiều nước hay không, chứ không ai đi “đoán định” độ sôi của nước bên trong nồi chõ làm gì.
- Sách Từ điển tục ngữ Việt (Nguyễn Đức Dương) giải thích: “Nghe hơi nồi chõ: Thăm chừng xem hơi có bay lên trong nồi chõ không (để đoán xem cái đang đồ đã chín chưa). Hay dùng để ví với việc quen đoán già đoán non qua những tin đồn thất thiệt tình cờ nghe được”.
Cách giải thích của nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương xem ra cũng khó thuyết phục. Trong thực tế, người ta chủ yếu căn cứ vào thời gian đun nấu và kinh nghiệm, chứ ít khi dựa vào việc quan sát hơi nước bốc lên. Mặt khác, chỉ cần nồi chõ sôi một lúc, đủ làm nóng đều gạo hoặc thịt phía trên, là bắt đầu nhìn thấy hơi nước/khói bốc lên, phì ra, chứ không phải đợi đến lúc xôi chín mới thấy hơi. Chưa kể, nếu chỉ cần biết hơi có bốc lên hay không, người ta chỉ cần quan sát hơi khói bên ngoài, mà không cần “thăm chừng xem hơi có bay lên trong nồi chõ không”.
- Sách “1575 thành ngữ tục ngữ cần bàn thêm”, tác giả Lê Gia sau khi bác bỏ cách hiểu của Đại từ điển tiếng Việt, đã “bàn thêm” như sau: “Cái nồi chõ để nấu xôi không làm chín xôi một cách trực tiếp bằng nước sôi mà bằng hơi nước nóng ở dưới nồi bốc lên, như vậy là nước đã làm chín xôi một cách gián tiếp bằng nước nóng. Ý nói: Nghe được điều gì đó một cách gián tiếp qua trung gian, chứ không phải có mặt tại chỗ mà nghe, mà thấy. Thí dụ: “Sách báo y chẳng có đọc, cứ đi nghe hơi nồi chõ ở đâu đó rồi cãi bướng”.
Cách giải thích của Lê Gia cũng không ổn. Vì tuy “làm chín xôi một cách gián tiếp”, nhưng xôi vẫn chín thơm ngon, có kết quả mắt thấy tay sờ, đâu có gì sai lệch, không chính xác, chắc chắn? Hơn nữa, “làm chín xôi một cách gián tiếp” là nói về phương thức truyền nhiệt, hoàn toàn không liên quan đến hành động “nghe hơi”.
- Tạp chí khoa học Việt Nam Trực tuyến (vjol.info) giảng cả nghĩa đen và nghĩa bóng như sau: “Nghĩa đen: Nồi chõ là dụng cụ đồ xôi, khi nấu chỉ phát ra tiếng hơi xì xì không rõ ràng. Người đứng xa chỉ nghe tiếng hơi mà không biết bên trong có gì. Nghĩa bóng: Chỉ việc nghe thông tin lõm bõm, không đầy đủ, thiếu chính xác. Người nghe chỉ nắm được phần “hơi” chứ không biết thực hư ra sao”.
Tuy nhiên, nếu nói rằng nghe “tiếng hơi xì xì không rõ ràng” thì đó là kiểu nghe phong thanh, chứ không phải “lõm bõm, không đầy đủ, thiếu chính xác”.
Vậy nghĩa đen của “Nghe hơi nồi chõ” là gì?
Theo chúng tôi, mấu chốt của vấn đề nằm ở từ khóa “nghe hơi”, nhưng đa số các sách đã không hiểu đúng nó.
“Nghe” ở đây không phải là cảm nhận âm thanh, tiếng động bằng thính giác, mà là “ngửi”; “hơi” cũng không phải là hơi nước, khói bốc lên từ nồi chõ (nhìn thấy bằng mắt), mà có nghĩa là “mùi”. “Nghe hơi” là nhận biết mùi gì đó bằng khứu giác (đánh hơi).
Không ít người đưa ra lý lẽ đã gọi là “nghe” thì phải là sự cảm nhận âm thanh bằng tai, chứ không ai “nghe” được mùi, và lại là “nghe” bằng mũi. Thậm chí còn cho rằng “nghe mùi” chỉ là cách nói của người Thanh Hóa. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy.
- Đại Nam quấc âm tự vị (Huình Tịnh Paulus Của) ghi nhận: “nghe mùi • biết mùi”.
- Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức) giảng: “nghe • Nhận được mùi bằng mũi: Nghe hôi-hôi, nghe có mùi thúi”; “nghe hơi • đt. Đánh hơi, nghe mùi phảng-phất: Nghe hơi tanh, lằng bay tới. • (B) Nghe phỏng, không đích-xác: Nghe hơi rồi nói phỏng”.
- Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến Đức): “hơi • 1 Khí, mùi <> Hơi đất, hơi nước, hơi bùn, hơi khó ngửi. Văn-liệu: Quen hơi bén tiếng. Nghe hơi nồi chõ...”.
Thành ngữ “Quen hơi bén tiếng” cho chúng ta thấy “hơi” là mùi, còn “tiếng” là âm thanh. Chính vì thế mới có các tổ hợp quen hơi, bén hơi, đánh hơi, nghe hơi... Điều thú vị là trong tiếng Hán, chữ văn 聞 ngoài nghĩa “nghe” còn có nghĩa “ngửi”. Chẳng hạn, trong phép Vọng - Văn - Vấn - Thiết của Đông y, Văn 聞 bao gồm cả nghe tiếng nói, tiếng thở và ngửi mùi cơ thể, mùi hơi thở để đoán biết bệnh.
Vậy nếu “nghe” ở đây là “ngửi”, thì nghĩa của thành ngữ “Nghe hơi nồi chõ” phải được hiểu như thế nào? Mời độc giả đón đọc bài tiếp theo trên chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa của Thanh Hóa cuối tuần số tới.
Hoàng Trinh Sơn (CTV)
{name} - {time}
-
2026-07-24 16:22:00[Thanh Hóa xưa và nay] Đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ - Điểm đến khảo cổ ấn tượng
-
2026-07-24 10:08:00Giữ ao làng - Giữ “mảnh hồn quê”
-
2026-07-24 09:51:008 điểm mới nổi bật và cơ chế đặc thù phát triển văn hóa Việt Nam
![[Thanh Hóa xưa và nay] Đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ - Điểm đến khảo cổ ấn tượng](http://c.dhcn.vn/media/img/256/news/2629/289d5152757t1800l1-289d5152752t1805.webp)


![[Thanh Hóa xưa và nay] Nơi lưu dấu khí phách bậc trung thần triều Lý](http://c.dhcn.vn/media/img/110/news/2629/290d3151911t1800l1-290d3151905t1801.webp)


