(vhds.baothanhhoa.vn) - Yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc luôn thôi thúc văn nghệ sĩ, trong đó các nhà thơ dân tộc Mường luôn trăn trở tìm cách làm mới những “đứa con tinh thần”, giữ nét riêng, nét bản sắc Mường trong sự thống nhất với bản sắc văn hóa Việt Nam. Họ nỗ lực, tận hiến trong việc gìn giữ văn hóa truyền thống, đồng thời tái tạo, phản ánh được cái riêng, cái mới của thực tiễn, đổi mới về thi pháp, hình ảnh, tư tưởng của con người và cộng đồng dân tộc Mường.

Thơ Mường xứ Thanh - Hồn cốt và sức sống mới

Yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc luôn thôi thúc văn nghệ sĩ, trong đó các nhà thơ dân tộc Mường luôn trăn trở tìm cách làm mới những “đứa con tinh thần”, giữ nét riêng, nét bản sắc Mường trong sự thống nhất với bản sắc văn hóa Việt Nam. Họ nỗ lực, tận hiến trong việc gìn giữ văn hóa truyền thống, đồng thời tái tạo, phản ánh được cái riêng, cái mới của thực tiễn, đổi mới về thi pháp, hình ảnh, tư tưởng của con người và cộng đồng dân tộc Mường.

Thơ Mường xứ Thanh - Hồn cốt và sức sống mới

Ảnh: Bảo ANH

1. Nhà thơ Mường tại Thanh Hóa chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong số các nhà thơ xứ Thanh, nhưng họ có đóng góp đáng kể trong việc phản ánh đời sống của Nhân dân (nói chung), dân tộc Mường (nói riêng). Dấu ấn của đời sống Mường hiện diện qua những tiếng thơ đến từ nhiều địa bàn: Ngọc Lặc (Vương Anh), Bá Thước (Trương Thị Mầu), Như Thanh (Phạm Tiến Triều), Cẩm Thủy (Bùi Nhị Lê, Phạm Thị Kim Khánh, Phạm Anh Thư), Thạch Thành (Bùi Kim Quy, Bùi Xuân Tứ)... Họ viết về đời sống sinh hoạt của người Mường gắn với tín ngưỡng thờ cúng với các nghi lễ của ậu, mo trong bản, mường. Ta thấy, cảnh và tình xứ Mường đẹp, ướm đầy tình ý trong thơ Vương Anh: “anh hát xường cài hoa để kịp mùa cấy gặt, hát xường để gọi trăng” ... Ta thấy những ân cần từ men rượu trong thơ Bùi Nhị Lê; bóng dáng cô gái Mường dịu dàng, chăm chỉ, mềm mỏng trong thơ Phạm Thị Kim Khánh; những hoài cảm bâng khuâng trong thơ Trương Thị Mầu; sự chân thành, chất phác gắn với hạnh phúc giản đơn, thanh bạch trong thơ Phạm Tiến Triều; và sự hoài niệm hòa quyện với sức đổi mới tinh tế trong thơ Phạm Tú Anh. Tuy đa dạng về cách tiếp cận nhưng các nhà thơ Mường đều toát lên điểm chung: sự thật thà, thẳng thắn. Người Mường khi nói về mình rất ngắn gọn, chân chất:

Người Mường

Đã nói là thật lòng đó

Đã ngó đã nghe là phải tỏ, phải bày

Đã thương là thương nồng thương thiết

Đã ghét là đào luôn dấu chân.

(Người Mường - Phạm Xuân Sinh)

Mỗi người dân Mường hôm nay đều đang trải qua những biến đổi không ngừng, luôn có sự đấu tranh nội tâm để gìn giữ hồn thiêng của dân tộc mình. Từ núi rừng, bản mường ấy, các nhà thơ còn lan tỏa tình yêu gắn bó với Tổ quốc thiêng liêng và sự nghiệp xây dựng đất nước.

2. Tình yêu, hôn nhân là những yếu tố điển hình bộc lộ nét văn hóa của nhân loại (nói chung) và của người Mường (nói riêng). Ngày nay, khi các quy phạm pháp luật và thiết chế xã hội được điều chỉnh chặt chẽ hơn, một số tập tục cũ như tục ngủ thăm không còn phù hợp với giá trị phổ quát hiện đại. Tuy vậy, nét đẹp mà cộng đồng Mường vẫn duy trì là những cảm xúc yêu thương du dương như điệu khèn, vang vọng với núi rừng, mây trời, những mối tình say đắm nhau đến lạc vía quên lối về. Đối tượng “lọt vào mắt xanh” của các chàng trai Mường là phụ nữ có vẻ đẹp truyền thống. Họ tỏ tình dịu dàng, tha thiết như câu xường, như ánh trăng chảy nơi suối nguồn thủa nào từng uống.

Thơ tình của các tác giả Mường ngày càng táo bạo hơn trong diễn ngôn, giàu cảm xúc trữ tình hơn do với chất sử thi. Những hình ảnh rất mới, sáng bừng khi Phạm Tiến Triều “nhặt nụ hôn”, Phạm Tú Anh “đỏ mắt thắp tháng giêng chờ đợi”... Nhịp sống hiện đại của thời kỳ hội nhập, của cuộc cách mạng khoa học lần thứ tư đã đem đến trạng thái yêu vừa rất thật, “rất Mường”, vừa mang lại sự hồ hởi, quyết liệt, say đắm - nhịp thở háo hức của giới trẻ thời đại mới.

Bàn về tình yêu với nhân sinh quan sâu sắc và nhân văn, thơ Mường hôm nay còn là hành trình vượt lên số phận, muốn thay đổi thói quen cộng đồng trước một tình yêu không trọn vẹn. Trong bài thơ “Gỡ lời bùa ngải”, Phạm Tú Anh miêu tả nỗi buồn của đôi nam nữ không đến được với nhau một cách đắng đót, tê tái. Thay vì một nghi lễ gỡ lời thề hẹn rình rang của ậu mo, nhân vật trữ tình - em - đã thực hiện một nghi lễ tự thân, sám hối đầy đau đớn, chua xót nhưng cũng thật sự quyết liệt để rũ bỏ. Đấy là sự khởi đầu dấn thân, chấp nhận sự thật, tìm kiếm cái mới của người phụ nữ nơi đây, cô xóa bỏ những gì cũ kỹ tiêu cực, ràng buộc đời mình. Còn Phạm Tiến Triều đối diện với lòng mình, với mất mát của tình yêu, muốn hàn gắn lại, thay vì tục “nèm yêu”, chàng đã tự mình làm một nghi lễ riêng, rất mới, rất đời, rất mình: xin “cùng em nhặt vụn vỡ ngày cũ”. Các nhà thơ trẻ đã tạo nên những nghi lễ mới chỉ có trong thơ, trong tâm thức, có những phá cách nhưng đều hướng đến sự vị tha, lòng nhân bản.

3. Các tác giả dân tộc Mường tại Thanh Hóa thể hiện trách nhiệm của cá nhân trước công cuộc đổi mới của quê hương, đất nước. Công cuộc CNH, HĐH nông thôn đã làm cho bức tranh tự nhiên và xã hội của cộng đồng người Mường thay đổi. Điều kiện vật chất tốt hơn, những lo sợ sức mạnh siêu nhiên và khao khát chinh phục tự nhiên dần được chuyển hóa. Con người có điều kiện để nhận thức về chính mình nhiều hơn trước, đáp ứng nhiều hơn những nguyện vọng cá nhân và khao khát chinh phục vượt qua bản thân.

Trong thơ Vương Anh luôn thường trực việc nuôi dưỡng giá trị của văn hóa Mường, ông lo lắng nhưng cũng luôn đặt hy vọng vào cái mới tích cực. Trương Thị Mầu, Phạm Tiến Triều luôn trăn trở với trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Sự tiếp biến văn hóa được thể hiện nổi bật nhất trong thơ của các nhà thơ dân tộc Mường xứ Thanh là yếu tố tư tưởng về thân phận con người, được đặc tả bằng phương thức trữ tình, đã ít nhiều mang dấu ấn hiện sinh. Phạm Tú Anh đã không dừng ở tiếng nói về thân phận con người Mường mà vượt lên đó, là tiếng nói của người thanh niên yêu nước, với những vần thơ phơi phới bay bổng:

Là mùa đầu tiên

Con mặc vừa chiếc áo của cha

Từ chiến trường gửi về cùng

tờ giấy báo tử

Giữa hội mường chiếc áo làm bóng con xanh như đại ngàn

lộng gió

Con nắm tay mẹ khấp khởi chuyến hành quân...

(Mùa xuân trên đỉnh núi)

Trong một số bài thơ thể hiện nỗi đau, khao khát nhân bản của con người thời hậu chiến mà Phạm Tú Anh đặc tả, đó là ý chí sắt son, sự kiên trung của cộng đồng Mường với Tổ quốc. Nỗi đau của người đàn bà miền núi về thân phận người thời hậu chiến, người phụ nữ mất con, mất chồng, sinh ra những đứa trẻ bị chất độc màu da cam. Hình tượng “mế” chân tứa đau bốn bề rừng thẳm, bao lần khuỵu ngã trước những nhúm đất mang hình hài bé bỏng - những nhúm đất từng chôn những đứa trẻ nhiễm chất độc màu da cam. Phạm Tú Anh đã khắc họa gương mặt thế hệ đàn bà dân tộc Mường thời hậu chiến đại diện cho tiếng nói khắc khoải của thời đại với nỗi đau chiến tranh chưa nguôi. Mế thực hiện nghi lễ chôn cất đứa con sau rừng, và cứ thế triền miên những nghi lễ của đời người như một cách hóa giải nỗi đau, chưng cất tình yêu thành tình yêu Tổ quốc.

Thơ của các tác giả dân tộc Mường xứ Thanh đã dần chuyển mình, làm nên một sức sống mới. Văn hóa hôm nay là sản phẩm của đời sống vật chất và tinh thần đương đại, vừa dựa trên tiền đề truyền thống, vừa định hướng tương lai. Thơ Mường xứ Thanh luôn bộc lộ vẻ chất phác, hồn hậu của cộng đồng dân tộc Mường, với tôn giáo, tín ngưỡng, phương thức sinh hoạt lao động riêng, đồng thời mang tinh thần dân tộc và cảm quan của một thế hệ trước những biến đổi của đời sống. Nét cổ điển, yếu tố sử thi hào hùng hòa quyện với sự hiện đại, hồ hởi, đắm say, nhiều bài có giá trị nghệ thuật cao, bộc lộ sự nâng niu vẻ đẹp chân chất và mạnh dạn, quyết tâm hòa mình vào công cuộc xây dựng xã hội mới.

Hạnh Lê (CTV)



 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]