Từ trái nghĩa với “xoàng xĩnh” (Bài 1)
Vua Tiếng Việt yêu cầu người chơi “Tìm một từ trái nghĩa với từ: “xoàng xĩnh”.

Người chơi trả lời là “chỉn chu”, nhưng không được chấp nhận, và đáp án của Chương trình là “đắt đỏ”, “cầu kì”. Như vậy, những người làm kịch bản của Chương trình cho rằng:
“Chỉn chu” không phải là một từ trái nghĩa với “xoàng xĩnh”.
“Đắt đỏ” trái nghĩa với “xoàng xĩnh”.
“Cầu kì” trái nghĩa với “xoàng xĩnh”.
Vậy, kết luận trên đúng hay sai?
Trước tiên, hãy xem những cặp từ như thế nào thì được xem là có quan hệ trái nghĩa. Sách Dẫn luận ngôn ngữ học (Hoàng Dũng - Bùi Mạnh Hùng - NXB Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2025) cho chúng ta biết: Quan hệ trái nghĩa “là quan hệ giữa hai từ có một nét nghĩa nào đó đối lập nhau”.
Sách dẫn ra “bốn kiểu trái nghĩa quan trọng”, kèm những ví dụ điển hình:
“Trái nghĩa lưỡng phân là quan hệ giữa những cặp từ ngữ trái nghĩa tạo thành hai cực mâu thuẫn nhau, phủ định cực này tất phải chấp nhận cực kia. Chẵn - lẻ là cặp từ trái nghĩa lưỡng phân: khi nói Đây không phải là số chẵn, thì điều đó có nghĩa là “Đây là số lẻ”.
Trái nghĩa thang độ là quan hệ giữa những từ trái nghĩa tạo thành hai cực có điểm trung gian, thành thử phủ định cực này chưa hẳn đã tất yếu phải chấp nhận cực kia. Trời không nóng, thì không chắc chắn gì có thể suy ra “Trời lạnh”, vì giữa hai cực nóng - lạnh còn có các trạng thái ấm, mát. Như thế, nóng - lạnh là cặp từ trái nghĩa thang độ.
Trái nghĩa nghịch đảo là quan hệ giữa những từ trái nghĩa tạo thành hai cực giả định lẫn nhau. Nói Cô là giáo viên của em ấy, tức là giả định Em ấy là học sinh của cô và ngược lại; giáo viên và học sinh là cặp từ trái nghĩa nghịch đảo. Không phải cặp từ trái nghĩa nghịch đảo nào cũng có hai chiều giả định như ví dụ vừa dẫn. Ông và cháu chẳng hạn: ông của ai thì người đó là cháu, nhưng cháu của ai thì người đó có thể là bà, cô, dì, bác, cậu... chứ không nhất thiết phải là ông.
Trái nghĩa phương hướng là quan hệ giữa những từ chỉ các hướng đối lập nhau, ví dụ: trước - sau, trái - phải, trên - dưới; đỉnh - đáy, cao - thấp, lên - xuống, tới - lui, trồi - sụt. Hướng ở đây không chỉ về không gian mà rộng ra, cả thời gian nữa, ví dụ: hôm qua - ngày mai, quá khứ - tương lai, trẻ - già, buộc - cởi, bắt đầu - kết thúc, ngủ - thức,...” (hết trích).
Vậy, soi chiếu vào “chỉn chu” và “xoàng xĩnh”; “đắt đỏ”, “cầu kì” và “xoàng xĩnh” thì chúng có phải là những cặp từ trái nghĩa không? Nếu phải, thì thuộc kiểu trái nghĩa nào?
“Xoàng xĩnh” và “chỉn chu”
Một từ có thể được dùng với nhiều nghĩa, vì vậy có thể có quan hệ trái nghĩa với nhiều từ mang nghĩa khác nhau. “Xoàng xĩnh” có thể hiểu là tầm thường, kém cỏi, không nổi bật, sơ sài, thiếu chăm chút... tùy vào ngữ cảnh dùng để chỉ đặc điểm của người, đồ vật, công việc... Theo chúng tôi, khi chỉ đặc điểm phong thái, ăn mặc của con người, chất lượng công việc... “xoàng xĩnh” và “chỉn chu” có mối quan hệ trái nghĩa, vì chúng có nét nghĩa đối lập nhau, và ta có thể xếp chúng vào kiểu trái nghĩa thang độ.
Nét nghĩa “đối lập nhau” của xoàng xĩnh và chỉn chu thể hiện ở chỗ: một bên là sơ sài, cẩu thả, không có gì nổi bật >< một bên là cẩn thận, đến nơi đến chốn, nổi bật. Ví dụ: Hôm qua ông ấy ăn mặc xoàng xĩnh bao nhiêu, thì hôm nay ăn mặc chỉn chu bấy nhiêu; Ở nhà ăn mặc xoàng xĩnh thế nào cũng được, nhưng đến công sở phải ăn mặc chỉn chu → đảo chiều, đối lập nghĩa rất mạnh. Trong khi, ví dụ: Ông này ăn mặc vừa xoàng xĩnh vừa chỉn chu → không ổn, vì mâu thuẫn ngữ nghĩa. Đây là dấu hiệu rất mạnh của trái nghĩa.
Như vậy, “xoàng xĩnh” và “chỉn chu” là cặp trái nghĩa thang độ, vì trong “xoàng xĩnh” có: rất xoàng xĩnh, hơi xoàng xĩnh, quá xoàng xĩnh...; và trong “chỉn chu” cũng có: tương đối chỉn chu, rất chỉn chu, quá chỉn chu...
Mời độc giả đón đọc phần tiếp theo trên chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa ở số tiếp theo.
Hoàng Tuấn Công (CTV)
{name} - {time}
-
2026-02-27 14:39:00Viết về bữa cơm gia đình để lan tỏa các giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống
-
2026-02-27 14:05:00Đánh mảng - Nhịp vui truyền thống bản Mường
-
2026-02-27 10:11:00Lễ chùa đầu năm - Nét đẹp văn hóa tâm linh






